Tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh PTO- Trải qua hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta đã luôn luôn phải chống trả và chiến thắng nhiều kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Đoàn kết để chiến đấu, đoàn kết để xây dựng, bảo vệ đất nước đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng CSVN, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, đã kế thừa và phát huy truyền thống đó trong cuộc đời và sự nghiệp của mình để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ chiến thắng vinh quang: giành lại nền độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã được Người tổng kết lại trong một chân lý sâu sắc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ, một trong những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là chúng luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết thống nhất của dân tộc bằng những thủ đoạn xảo quyệt thâm hiểm như “chia để trị", “dùng người Việt đánh người Việt”... hòng làm suy giảm ý chí, sức chiến đấu và lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Vì vậy, Người chỉ rõ: “Chỉ có đoàn kết phấn đấu, nước ta mới được độc lập”, “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt thì chúng ta nhất định khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi mà làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta” (bài nói chuyện ngày 30-11-1954 với anh chị em công chức thủ đô). Tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện một cách cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục cao. Xuất phát từ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Người chủ trương đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài, thật sự với mọi người yêu nước, tán thành độc lập, tự do, thống nhất, mưu cầu hạnh phúc, ấm no, không phân biệt tầng lớp , đảng phái, tôn giáo, dân tộc, không phân biệt trước đây họ đã theo phe phái nào. Là tấm gương sáng ngời của lòng khoan dung, nhân hậu, vị tha, đức độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy ở tất cả mọi người (kể cả những người đã từng lầm đường lạc lối, bất đồng quan điểm chính trị) truyền thống yêu nước, yêu quê hương, trách nhiệm với tổ tiên, dân tộc, gia đình, giúp họ có thể gác lại một bên những băn khoăn, thắc mắc, thậm chí cả hận thù để hướng vào một mục đích chung là giành độc lập, tự do cho dân tộc. Trước khi lên đường sang Pháp đàm phán, ngày 31-5-1946 , Người đã gửi thư cho đồng bào Nam bộ với những lời chân thành, thắm thiết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”. Chính vì lòng khoan dung đại độ ấy mà Bác đã tập hợp được một đội ngũ tri thức rộng lớn sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý cá nhân để đến với cách mạng và phụng sự dân tộc hết mình như các chí sỹ: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Văn Hoè, những nhà khoa học lớn như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Tạ Quang Bửu và cả mọt số người đã từng có thời kỳ giữ những trọng trách của chính quyền đối lập. Cũng do sự hiểu biết sâu rộng về vấn đề nguồn gốc, bản chất, giáo lý của các tôn giáo, tín ngưỡng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy và chỉ ra mối quan hệ, sự gần gũi giữa cái chân - thiện - mỹ của tôn giáo với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, đạo đức của dân tộc, tạo ra sự đoàn kết của đồng bào lương - giáo, một lòng đi theo ngọn cờ của Đảng. Nghe theo tiếng gọi của Người, đồng bào có đạo cả nước đã hăng hái tham gia các phong trào kháng chiến, kiến quốc, trong đó có thể kể tên một số gương mặt chức sắc tiêu biểu như linh mục Phạm Bá Trực, Võ Thành Trinh, Vương Đình Ái, hoà thượng Thích Quảng Đức, Thích Đôn Hậu... Không bó tròn trong một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng của mối tình đoàn kết quốc tế. Với một đất nước đi xâm lược, Người chỉ rõ đâu là thù, đâu là bạn. Bước chân sang đất Pháp (năm 1911), Người đã nhận ra ngay có hai nước Pháp khác biệt: Nước Pháp của bọn tư bản cầm quyền, áp bức và nước Pháp của người nghèo, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người chỉ ra rằng: Chủ nghĩa tư bản là một con đìa, một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Vì thế, muốn tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thì phải có sự đoàn kết quốc tế giữa những người bị áp bức với nhau cùng chống lại kẻ thù chung. Trong lời kêu gọi kiều bào Việt Nam ở Pháp (5-11-1945), Người viết: “Chúng ta không hề thù ghét dân tộc Pháp. Chúng ta hiểu rằng: Đã từng chiến đấu với Đức, đã từng giữ vững tinh thần trong giai đoạn tối tăm của lịch sử, dân Pháp sẽ hiểu hơn ai hết những sự đau đớn và hy sinh của chúng ta. Dân Pháp sẽ can thiệp với chính phủ để ngăn chặn cuộc đổ máu và giữ sinh mệnh cho những lương dân vô tội". Để làm cho nhân dân hiểu rõ ý nghĩa của ngày Quốc tế lao động, trong lời kêu gọi ngày 1-5-1946, người viết: “Ngày 1 tháng 5 là một ngày tết chung cho lao động thế giới. Nó có một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa... Đối với chúng ta, nó là một ngày để tỏ ra cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà còn là ngày nhân dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới. Nhân dịp này, chúng ta gửi lời chào mừng lao động thế giới và tỏ tình thân thiện quốc tế". Với nhân dân Lào láng giềng, Người đã viết những vần thơ hết sức cảm động, sâu sắc ...“Việt- Lào hai nước chúng ta/Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long”. Tinh thần đoàn kết ấy đã vượt qua biên giới, đến với bạn bè, đồng chí năm châu, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù chung. Đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng triệt để và sáng tạo khẩu hiệu bất hủ của Mác - Lênin “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại"! Cần phải nhấn mạnh rằng: Vấn đề cốt lõi của tinh thần Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên... Và ngày 18-11-1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước. Đó là một sự kiện chính trị to lớn đánh dấu một mốc son trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, là tiền thân của Mặt trận Tổ quốc VN hôm nay. Lấy cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Mặt trận dân tộc thống nhất (dù thay đổi tên gọi qua các thời kỳ) đã tập hợp, xây dựng được một khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Có thể nói rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề: Vì sao phải lấy dân làm gốc, Người nói thật đơn giản: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác (được tập hợp trong bộ “Hồ Chí Minh toàn tập”) hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và thật đáng kính trọng và cảm phục biết bao khi chính bản thân Người, (qua cách sống, làm việc, ứng xử...) là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi... Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, thấm nhuần lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta càng thêm tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn Dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Đó cũng chính là tinh thần của Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra. |