Thủ tướng Việt Nam đã thẳng thắn phát biểu trước kiều bào tại Moscow: "Mỗi dự án đầu tư chính là chiếc cầu nối hữu nghị thiết thực. Hữu nghị mà không làm ăn thì rất khó. Tình cảm tốt thì phải chở bằng kinh tế, rất thực tế, cùng có lợi, cùng phát triển". Tuyên bố này cho thấy một cách rõ ràng, tư duy thực tế của lãnh đạo Việt Nam về thế giới và về những mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Từ đồng minh truyền thống
Nhìn lại lịch sử, Việt Nam có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp với Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc (sau tách ra thành CH Séc và Slovakia), đến mức mà các nhà lãnh đạo mỗi nước thường mô tả bằng từ "hiếm có", "vượt tiêu chuẩn".
Quan hệ ngoại giao được thiết lập từ những năm 50 và trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, những đồng minh chung ý thức hệ cộng sản, trong đó Liên Xô là nước viện trợ chính cả kinh tế và quân sự cho Việt Nam trong cuộc chiến khốc liệt với Mỹ. Riêng Ba Lan từng cử hàng chục tàu buôn chở vũ khí sang miền Bắc Việt Nam.
Những người Việt Nam ở độ tuổi từ 40 trở lên nay vẫn cảm nhận thấy một mối liên hệ gần gũi và đặc biệt với nước Nga và Đông Âu. Hàng chục nghìn người đã học tập ở Nga, Ba Lan, trở về nước và nhiều người có những vị trí nhất định trong xã hội.
Quá trình hợp tác xuất khẩu lao động trong những năm 80 đã góp phần tạo ra một cộng đồng người Việt đông đảo tại các nước này, lên tới 160 nghìn người.
Tuy nhiên, mối quan hệ nồng ấm, gần gũi này đã nguội đi khá nhiều khi diễn ra quá trình thay đổi thể chế chính trị tại Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan. Suốt cho đến gần cuối những năm 90, hầu như không có cuộc thăm viếng cấp cao nào giữa Việt Nam với những nước này. Giao thương hai chiều, từ chỗ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kim ngạch thương mại của Việt Nam, đã sụt giảm đến mức chỉ còn vài chục triệu USD.
Dù có nỗ lực duy trì sự hiện diện tại Đông Nam Á thông qua Việt Nam thì sự suy yếu về địa vị kinh tế, chính trị đã khiến ông Putin buộc phải lựa chọn giải pháp rút khỏi bán đảo Cam Ranh, một vị trí đắc địa về quân sự mà Nga đã thuê của Việt Nam từ năm 1978.
Đến đối tác thực tế
Mối quan hệ nồng ấm trở lại với chuyến thăm cấp cao đầu tiên của Tổng thống Nga Putin năm 2001. Trong chuyến thăm này, hai bên đã tuyên bố xác lập "quan hệ đối tác chiến lược".
Nếu không có sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế cũng như sự nổi lên của Việt Nam như một quốc gia đang phát triển năng động và mời gọi nhiều cơ hội làm ăn hấp dẫn, có lẽ cái tên Việt Nam sẽ khó lòng gợi lại sự chú ý của giới lãnh đạo Nga và các nước Đông Âu.
Nhưng dẫu cho LB Nga đã trở thành "đối tác chiến lược" đầu tiên của Việt Nam thì quan hệ kinh tế song phương vẫn thấp hơn nhiều so với Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. Con số trao đổi giữa Việt Nam với Séc, Ba Lan lại càng nhỏ bé, và quá khập khiễng để so sánh.
Không chỉ giới lãnh đạo các nước trên bắt đầu nhìn về Việt Nam như một thị trường và địa chỉ đầu tư đầy hứa hẹn, mà các nhà lãnh đạo Việt Nam, thông qua những phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tư duy về những cựu đồng minh từng chung ý thức hệ như những đối tác làm ăn giàu tiềm năng trong những lĩnh vực mà Việt Nam đang có nhu cầu lớn. Mặc dù, trong ý thức sâu xa của các bên, di sản hữu nghị, gắn bó một thời kỳ dài trong quá khứ vẫn khiến họ cảm thấy 'ấm áp" và "tin tưởng" hơn trong mối quan hệ.
Lần đầu tiên, cụm từ "đối tác chiến lược thiết thực, hiệu quả" đã được nhắc đến nhiều lần trong các cuộc gặp cấp cao giữa Thủ tướng Việt Nam với Tổng thống Putin và Thủ tướng Mikhail Fradkov.
Hơn 6 tỷ USD trị giá hợp đồng ký kết trong chuyến đi là biểu trưng hết sức cụ thể cho mối quan hệ mới giữa những đồng minh cũ trong một thế giới đã hoàn toàn khác trước, nơi đã xoá nhoà ranh giới khác biệt về ý thức hệ, chỉ còn lấy lợi ích dân tộc làm trọng.
Có thể nói, Việt Nam đã gặt hái được khá nhiều từ chuyến đi này, đặc biệt là những dự án lớn có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam như: Séc đầu tư 3 tỷ USD xây nhà máy nhiệt điện công suất 3000 MW (chiếm tới 20% tổng lượng điện của Việt Nam hiện nay), tập đoàn dầu khí Nga ký hiệp định hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí ở nước thứ ba với PetroVietnam hay thoả thuận ưu đãi tín dụng 300 triệu USD của Chính phủ Ba Lan dành cho Vinashin nhằm phát triển công nghiệp đóng tàu.
Hầu hết những thoả thuận đều tập trung vào những ngành thế mạnh của các nước này, cũng là những ngành công nghiệp nặng đóng vai trò xương sống cho công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam.
Vai trò của cộng đồng người Việt
Chuyến đi, lần đầu tiên cũng góp phần khai thông những vướng mắc lâu nay của cộng đồng người Việt ở các nước này. Hàng nghìn người Việt sinh sống nhờ nghề buôn bán lẻ ở các chợ trời của Nga, Séc, Ba Lan vốn đang lao đao vì chính quyền sở tại bắt đầu áp dụng các luật hà khắc với lao động nước ngoài.
Việc chính phủ Việt Nam bàn thảo với phía Nga để tiến tới ký một Hiệp định khung về lao động trong năm nay nhằm tăng các quyền của người lao động Việt ở Nga cũng như những hứa hẹn mà Thủ tướng Việt Nam nhận được từ lãnh đạo Séc, Ba Lan về việc tạo điều kiện cho người Việt làm ăn, sinh sống thực sự là một liều thuốc trấn an mạnh mẽ đối với cộng đồng Việt tại đây.
Không giống như những cộng đồng kiều bào khác hình thành từ các cuộc chiến tranh, cộng đồng Việt ở Nga, Séc, Ba Lan hình thành một cách tự nhiên từ những người Việt Nam sang đây theo diện học tập hoặc xuất khẩu lao động. Tức là, họ có mối thiện cảm mạnh mẽ với chính quyền trong nước. Nguồn tiền họ làm ra, chủ yếu được gửi về đầu tư trong nước, trong đó có những dự án lớn về bất động sản...
Thực tế vẫn còn nhiều rào cản để mối quan hệ này có thể đạt được những đột phá mới sau chuyến đi của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam. Nhưng tình cảm hữu nghị và tin cậy lẫn nhau từng được vun đắp qua thời gian chính là một di sản quý để mỗi bên có thể khai thông những vướng mắc cho mối quan hệ đối tác làm ăn.