"Nốt nhạc buồn" chân núi Vung PTO- “Lần đầu tiên đem bản đồ điều tra chi tiết đời sống nông nghiệp nông thôn của bản xuống huyện nộp, tôi đã bị anh cán bộ huyện khiển trách là sao có thể sơ ý đến ấu trĩ khi không có dấu “khoanh tròn” (ký hiệu của nhà vệ sinh) ở khu vực các hộ dân. Mình vừa bực vừa buồn cười giải thích rằng trên đó đến tận bây giờ vẫn chưa nhà nào có cái “khoanh tròn” đó cả. Mọi “nhu cầu” đều được giải quyết ngoài bờ suối, trong rừng cây. Đấy, cái tối thiểu như vậy còn thiếu thì các anh phần nào hiểu được đời sống của bà con trên đó... “Lời giới thiệu của anh cán bộ địa chính xã trên đường vào bản Náy (xã Yên Lương, Thanh Sơn) chỉ là một trong những chuyện khó tin về đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc Dao mà hai ngày ở bản chúng tôi được chứng kiến...” Hạ sơn rồi lại... đăng sơn
 | | Trạm điện hạ thế được xây dựng từ năm 2005 tại khu Bồ Xồ vẫn bỏ hoang. | Nằm dưới chân núi Vung, ranh giới giữa đất Thanh Sơn và Đà Bắc (Hoà Bình), từ trung tâm xã Yên Lương muốn vào được bản Náy phải đi ngược qua Hương Cần, Tân Lập dài 15km, qua khu Quất, Bồ Xồ leo ngược lên những con dốc dài dựng đứng.
Cuốc bộ được một đoạn, anh bạn đồng nghiệp của tôi quẳng túi, ngồi phịch xuống đất mũi miệng thi nhau thở, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Khổ. Khi anh đề nghị đi nhờ xe, hai cán bộ xã đưa đường cứ chối đây đẩy: “Bác phải hết sức thông cảm. Đường xá thế này. Xe bọn em lại là hàng Tàu. Sức mấy mà lên được. Từ trước tới nay đã có ai đi hai mà lên được dốc này đâu”. Thương anh, tôi cố liều để anh ngồi sau leo dốc. Nhưng chỉ được một đoạn ngắn, về hết số, dồn hết ga mà chiếc xe cứ ì ra, khói phun mù mịt. Vậy là đành chịu. Vừa đi vừa đợi nhau, vào đến bản, trời đã nhá nhem tối. Hôm nay đã sang ngày 7-9, hôm trước khai trường dưới xã xong, các thầy cô giáo lỉnh kỉnh khăn gói lên bản chuẩn bị cho năm học mới. Trường toạ lạc ngay đầu bản. Lúc chúng tôi tới nơi, trưởng khu Trần Quang Vinh cùng bà con đang dở tay đan phên nứa, dựng lại phòng học, nhà ở cho các thầy cô giáo. Năm nay, bản có 3 giáo viên. Cô giáo trẻ mới ra trường Đinh Thị Kim Phượng dạy lớp mẫu giáo. Cô Lê Thị Tuyết dạy hai lớp 4,5. Thầy Đinh Cao Cường dạy hai lớp 2,3. Học sinh lớp một của bản không có em nào. Chùi vội đôi tay lấm lem vào ống quần, đẩy chiếc Cup 50 ra khỏi sân trường, trưởng khu Vinh bặm môi dậm chân khởi động xe dẫn đường đưa anh em chúng tôi vào bản. Quê gốc ở Thái Bình, đã từng làm thiết kế xây dựng, gắn bó với mảnh đất này trên 30 năm, có thâm niên 15 năm làm trưởng khu hành chính nên ông Vinh nắm rất vững, trò chuyện rõ ràng, mạch lạc mọi chuyện về đời sống của bà con trong khu. Theo lời ông Vinh: Người Dao sinh sống trên đất này từ rất lâu rồi. Đầu tiên là những người đi rừng bên Hoà Bình đến khai khẩn lập trại, rồi dần dần hình thành làng bản. Những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, cảnh sống ở rừng khó khăn, vất vả quá, lại được chính quyền địa phương vận động nên gần hai chục nóc nhà trong bản bồng bế, dắt díu nhau xuống khu Đao Má ở trung tâm xã tìm cuộc sống mới. Nhưng mọi chuyện không hề đơn giản như những người hạ sơn tưởng. Xa rừng bà con bắt đầu tập cầm cày, cầm cuốc làm lúa nước. Đất nông nghiệp ít lại cằn cỗi, giống lúa xấu, cách canh tác lạc hậu nên sản lượng rất thấp. Bà con đói ăn quanh năm. Trụ cố vài năm, đói quá không chịu được, năm 1979, các gia đình lại cùng nhau ngược núi tìm về nơi ở cũ.
Gần 30 năm, Bản Náy giờ đã có 32 nóc nhà với 171 nhân khẩu dân tộc Dao. Chừng ấy năm cảnh vật quanh bản đã có nhiều thay đổi. Nhưng cái đói, cái nghèo từ ngày trước vẫn dai dẳng đeo bám, đè nén cuộc sống người dân. Tính đến nay, mới có 6 hộ thoát nghèo. Hơn một nửa số gia đình trong bản đói đứt bữa. Gần hai trăm con người chỉ có 6,4ha lúa nước bạc màu (trong đó gần 4ha trồng được hai vụ còn lại là diện tích chỉ canh tác một vụ). Năm nào được mùa, năng suất lúa mới đạt 80kg/sào. Vậy nên chỉ thu hoạch về chưa đầy một tháng, bịch lúa đã trống không. Nhà nông mà 99% gia đình trong bản phải ăn đong. Thêm vào đó thói quen sinh hoạt lạc hậu, các hủ tục vẫn tồn tại trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Bà con ở đây vẫn sử dụng nước ở khe, suối sinh hoạt.
Cả bản chỉ có một, hai nhà có nhà tắm, không gia đình nào nào có nhà vệ sinh. Các tập tục như làm lễ Lập tĩnh, lễ cưới linh đình, tốn kém vẫn tồn tại... Vậy nên, bản chưa có gia đình nào đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Mấy chục năm nay, bản Náy mới có duy nhất một học sinh tốt nghiệp THPT (con trai trưởng bản Vinh). Hiện có khoảng 60% gia đình trong bản dùng điện thắp sáng từ máy phát nhỏ đặt ven suối, những nhà còn lại không đủ điều kiện đầu tư 200.000-300.000 đồng mua máy, mua dây. Nhưng điện cũng chỉ có trong mấy tháng mùa mưa, mùa khô đến, nước không đủ chạy máy, đèn dầu trở thành công cụ chiếu sáng duy nhất ở đây. Năm 2005, được Nhà nước đầu tư, trạm hạ thế đã đuợc xây dựng ở khu Bồ Xồ, cách bản chưa đầy 2km. Vậy nhưng từ đó đến nay, trạm vẫn bỏ không, các cột điện xếp ven đường chìm trong đất cát, cây dại. Không riêng gì bản Náy, người dân khu Bồ Xồ, khu Quất đều không đủ khả năng đóng tiền điện. Vậy là chịu, nhìn trạm điện ngay đầu ngõ mà vẫn phải thắp đèn dầu.  | | Lớp học mầm non trên bản Náy. | Được đánh giá là gia đình khá giả nhất của bản nhưng nhà của trưởng khu Vinh cũng chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc tủ tường bằng gỗ ép, chiếc ti vi, đầu VCD Trung Quốc. Cái áo ông mặc khi tiếp chúng tôi rách ngang dọc, hở cả vai, lưng. Trên đường thăm bản, chỉ tay về phía ngôi nhà nhỏ ghép bằng những tấm ván mỏng ọp ẹp, xiêu vẹo, ông ngậm ngùi giới thiệu: “Đây là nhà của anh Lê Văn Long do chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm dựng cho đấy. Bố chết. Mẹ đi bước nữa. Chị gái lấy chồng. Hai anh em hơn chục tuổi thui thủi nuôi nhau. Tiền hỗ trợ được 5 triệu. Gia đình, anh em dòng họ chẳng có đồng nào thêm vào. Bà con hàng xóm cũng chỉ có thể giúp công lao động. Nên phải tìm căn nhà cũ nào dưới xã mua lại, thuê thợ đánh dấu, vận chuyển lên bản dựng lại”.
Mới đây bản Náy được giúp đỡ xóa 4 nhà, thì có đến 3 nhà không có đồng nào thêm vào. Thành thử ra, xóa nhà tạm cũng đồng nghĩa với việc dựng lại một nhà tạm khác. Nhưng như vậy vẫn còn tốt chán, trong bản còn đến hơn chục nhà dột nát đang chờ được chương trình xóa nhà tạm giúp đỡ. Trên đường đi thăm các gia đình trong bản, chúng tôi liên tục gặp những nhóm người lầm lũi bước nhanh, đầu chúi về phía trước, trên lưng lật lưỡng những gùi nặng phủ lá kín mít. Ông Vinh giải thích: “Bà con đi hái măng về đấy. Đây mới là nguồn sống chính của gần hai trăm con người trong bản”. Cứ đến mùa, nhà nhà, người người trong bản lại kéo nhau vào thung lũng Cầu Máng bẻ măng về bán. Những năm trước rừng nứa ở đây còn giàu, việc bẻ măng tương đối dễ dàng. Nay rừng nứa đã vào thời kỳ già cỗi, người nào chịu khó chui rúc một ngày một đêm cũng chỉ bẻ được 15-20kg.
Thường họ đi làm hai người, cứ mờ đất là đeo gùi, xách dao, lận lưng mo cơm nắm lên đường, tìm cả ngày, tối ngủ lại trong rừng, sáng hôm sau lại tìm tiếp khi nào đủ hai gùi 60-70kg mới trở về đem xuống xã bán với giá 1.800-2.000đồng/kg. Khoản thu đáng kể nữa của người dân bản Náy là cây khoai tầng. Bản có cả một khu đất trống rộng đến 45-50ha trồng khoai, sắn. Nhà nào cũng có 1-5 sào khoai tầng cho năng suất 3-4tạ/ha với giá bán 3.000-5.000đồng/kg. Khoản thu hàng năm cũng không phải là nhỏ. Nhưng phải gánh hàng trăm khoản chi tiêu của đời sống nên số tiền thu được từ rừng cũng chỉ như “gió vào nhà trống”. Mặt khác, khoai tầng là giống cây rất khó tính. Ngoài việc đòi hỏi chăm bẵm kỹ lưỡng, muốn cây sai củ mỗi năm phải chuyển địa điểm canh tác một lần. Nghĩa là, năm nay, người trồng khoai chọn khu đất trống, dọn cây cỏ, đốt thực bì, trồng và thu hoạch xong là bỏ đó, năm sau lại phải tìm khu mới bắt đầu lại từ đầu. Vậy nên cả vạt núi rộng lớn của bản Náy cứ loang lổ những vạt cỏ dại chỗ xanh, chỗ cháy xém.
Năm trước, có đoàn cán bộ lên bản đo đạc khu đất trống, thiết kế, tư vấn cho bà con trồng rừng xóa đói nghèo. Người dân giãy nảy: Ai chẳng biết trồng rừng nguyên liệu cho thu nhập cao. Nhưng phải mất 5,7 năm mới có tiền. Trong thời gian đó không có khoai, sắn thì bà con sống bằng gì? Trao đổi với chúng tôi, chủ tịch UBND xã Yên Lương cũng thừa nhận: “Cuộc sống của bà con trên đó khó khăn ra sao chúng tôi biết lắm chứ. Nhưng vốn không có nên chẳng tìm ra giải pháp nào khả thi. Nói đơn giản như việc Nhà nước đầu tư cho trạm điện đã gần 3 năm nay mà không thể thu đủ tiền để đóng điện. Mỗi hộ phải nộp 800.000 đồng. Chúng tôi đã tính đến cách thu trong hai năm, mỗi năm thu 2 lần vào mỗi vụ thu hoạch mà cũng có được đâu. Muốn giúp bà con vay vốn ngân hàng nhưng chẳng nhà nào có bìa đỏ để làm thủ tục vay tín dụng. Mới đây, Yên Lương được vào chương trình 135 giai đoạn hai. Được hưởng lợi từ chương trình, cuộc sống bà con sẽ có những chuyển biến”. Nhưng đó là chuyện của sau này, còn hiện tại khi chúng tôi rời bản, cuộc sống của gần 300 con người sống dưới chân núi Vung vẫn là “nốt nhạc buồn” ảm đạm. Trên đường về, tôi cứ day dứt mãi bởi câu chuyện nghe được ngoài trường học. Có cô giáo trẻ nhận quyết định đi dạy, đọc thấy nơi công tác là bản Náy đã giãy nảy lên trả lại quyết định: Chẳng dạy thì đừng, chẳng dại gì em rúc đầu lên đấy để hành xác mình! Cứ như vậy thì biết đến bao giờ người dân vùng cao mới hết thiệt thòi, thiếu thốn. |