Chương trình cấp nước sinh hoạt nông thôn: Những công trình không như mong muốn  | | Công trình nước sạch xã Chí Đám trị giá gần 1 tỷ đồng, 3 năm nay vẫn "đắp chiếu" chờ điện. | (PTĐT) "Cấp nước sinh hoạt cho các vùng nông thôn" là chương trình có ý nghĩa thiết thực với đời sống sinh hoạt nhân dân, nhất là những vùng đang "khát" nước sinh hoạt nghiêm trọng. Tuy nhiên, kết quả lại không như mong muốn, bởi hiện nhiều công trình đang thực sự "có vấn đề" trong các khâu thi công, hoàn thiện, cung cấp nước... gây lãng phí và hiệu quả đầu tư không cao. 52 công trình với tổng đầu tư lên tới hơn 45 tỷ đồng đã được xây dựng trên địa bàn trong thời gian qua từ nguồn vốn ngân sách, có không ít công trình đã bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc trong tình trạng "bỏ dở" không biết đến bao giờ mới được đưa vào sử dụng...(?)
Gay gắt nhu cầu nước sạch Hiện nay, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đang diễn ra ở nhiều khu vực, gây không ít khó khăn cho nhân dân trong sinh hoạt và sử dụng nước sạch - một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Tại một số địa phương như: Chí Đám (Đoan Hùng), Cổ Tiết (Tam Nông), Đồng Xuân (Thanh Ba), Xuân Huy, Thạch Sơn (Lâm Thao), Bạch Hạc (TP Việt Trì), Đồng Thịnh (Yên Lập)... có hàng chục nghìn hộ dân đang hàng ngày đối mặt với tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt đã nhiều năm nay, nhất là trong những tháng khô hạn. Tại đây, cứ từ tháng 10-11 trở đi, nước sinh hoạt được coi như một thứ "hàng hiếm" mà nhiều hộ dân vẫn phải mua với một cái giá cao "ngất ngưởng" từ sự cung ứng của các "ông chủ" tư nhân.
Tại thành phố Việt Trì, nước máy chỉ có giá 2,5 nghìn đồng một m3, tuy nhiên ở nhiều nơi, cái giá mà người dân phải trả cao gấp 10-15 lần. Tại xã Chí Đám (Đoan Hùng), hầu hết trong số hơn 300 hộ dân ở dọc quốc lộ 2 thuộc khu Ngọc Chúc 1, 2, 3, khu Phương Hùng 1 và Gò Măng... nhiều năm nay đang thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Bà Lê Thị Kim Liên (khu Ngọc Chúc 1) nói trong nỗi bức xúc: "Dân ở đây vì thiếu nước sạch mà đang phải mua tới 25 nghìn một m3 nước, nhà ít thì không lo, chứ như nhà chúng tôi, tới 3-4 khẩu, không biết kéo dài như thế này có "chịu" được không?...". Nước ở đây được người dân sử dụng tiết kiệm một cách tối đa, chủ yếu để đun uống, nấu cơm, rửa mặt; còn tắm, giặt.. .thường là "tuỳ nghi di tản"! Xã cũng đã được "ưu tiên" một công trình nước sinh hoạt khá "hoành tráng", tuy nhiên, vì không có... điện mà hơn 3 năm nay, công trình "mong đợi" này vẫn bỏ không (?).
Tại Tiên Du (Phù Ninh) , một xã ven sông Lô, thì do tình trạng khai thác cát sỏi bừa bãi trong những năm qua mà hiện nay, hàng trăm giếng đào ở các khu dọc sông đã bị... lấp hoặc "đắp chiếu" vì không có nước, mặc dù có hộ còn đào sâu thêm từ 3-4 m. Nước không có, hàng chục phương án được người dân "áp dụng" , nhưng ngày càng vô vọng. Ông Phùng Văn Bình (khu 4) trăn trở: " Tôi ở đây từ nhỏ mà cũng chưa bao giờ thấy nước sạch lại khan hiếm như bây giờ. Nhà tôi gần sông nhưng cũng phải đi xin nước tận trong làng, giếng nhà thì vẫn còn nhưng nước có mầu vàng , không dùng được...". Từ tháng 10 trở đi, vài trăm hộ dân Tiên Du lại phải sống chung với tình trạng thiếu nước sạch dùng cho sinh hoạt.Tình trạng này vẫn đang tiếp diễn và ngày càng nghiêm trọng hơn. Phường Bạch Hạc (TP Việt Trì), một phường nằm dọc theo sông Lô và là nơi "ngã ba sông", nhưng người dân cũng không có nước sinh hoạt.
Nhiều giếng đào đã bị bỏ cạn trơ đáy, giếng nào có nước thì cũng chỉ một màu vàng đục, không thể sử dụng. Nhiều hộ có điều kiện và lo cho sức khoẻ của mình đã đầu tư xây bể chứa , đồng thời phải mua tới... 35-40 nghìn một m3 nước sạch từ các xe téc chở nước của tư nhân, nhưng họ cũng không biết nước mà mình phải bỏ tiền ra mua với giá "trên trời" ấy được "xuất phát" từ nguồn nào (?), có ai dám "chứng nhận" cho những m3 nước đang dùng để uống hàng ngày ấy là nước sạch? Hiện tại, theo thông tin chúng tôi có được, tỉnh ta hiện có tới 38% số dân đang thiếu nước sinh hoạt. Trong hoàn cảnh đó, các công trình nước sinh hoạt nông thôn đã ra đời như một "phương án" tối ưu nhằm giải quyết triệt để tình trạng này. Không như mong đợi, vẫn còn nhiều công trình đã bị "đắp chiếu" vì đủ các lý do và không ít trong số đó đang bị xuống cấp nghiêm trọng chỉ sau một hay hai năm sử dụng... (?)
Những đáp án sai của một bài toán khó Như trên đã nói, trong tình trạng thiếu nước sinh hoạt gay gắt, những nỗ lực để từng bước giải quyết đều đáng trân trọng. Nhưng theo thông tin từ " Kết quả kiểm tra hiện trạng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn" cách đây không lâu cho thấy, đã và đang có rất nhiều công trình bị xuống cấp nghiêm trong chỉ sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng.
Tiêu biểu như Công trình của xã Hợp Hải (Lâm Thao), được bàn giao cho UBND xã năm 1999, có tổng kinh phí hơn 730 triệu đồng, UBND xã lại giao cho HTX điện nước quản lý. Hiện HTX chỉ khai thác duy nhất giếng khoan số1 (LK 1) đạt lưu lượng 86,4 m3/ngày đêm, còn giếng khoan số 2 (LK 2) có hiện tượng xụt thành giếng, không khai thác, khu xử lý nước xuống cấp nghiêm trọng; công xuất khai thác chỉ đạt 25% thiết kế, cấp nước cho 1/3 dân của xã, tương đương khoảng 1.000 dân. Về chế độ vận hành không có sổ nhật ký theo dõi vận hành khai thác nước, không thực hiện chế độ duy tu bảo dưỡng, thổi rửa giếng khoan theo quy định, không phân tích chất lượng nước hàng năm.
Tại xã Hùng Lô (Phù Ninh) công trình cấp nước sạch được bàn giao năm 2000, có lưu lượng thiết kế 400m3/ngày đêm phục vụ cho 5.600 dân với tổng kinh phí lên tới hơn 1,1 tỷ đồng, nhưng lưu lượng nước khai thác chỉ đạt 100m3/ ngày đêm, hệ thống xử lý chỉ mới qua vài năm sử dụng đã bị xuống cấp, bể chứa nước bị nứt, gây thất thoát nước. Những người có trách nhiệm quản lý công trình cũng không có sổ nhật ký theo dõi vận hành khai thác nước, không thực hiện chế độ duy tu bảo dưỡng, thổi rửa giếng khoan theo quy định, không phân tích chất lượng nước hàng năm.
Tại thị trấn Ấm Thượng (Hạ Hoà), công trình nước sạch được đưa vào sử dụng từ năm 1998, có công suất thiết kế 560m3/ngày đêm, tổng kinh phí đầu tư lên tới gần 1,6 tỷ đồng, hiện do trạm thuỷ nông huyện quản lý nhưng cũng chỉ khai thác được 3 giếng khoan, còn 2 giếng thì bị "bịt nõ" không khai thác được, hệ thống đường ống dẫn nước hư hỏng, bị bục nhiều chỗ, hiệu quả công trình chỉ đạt... 51% và nước cũng không được phân tích chất lượng hàng năm. Công trình nước sạch tại xã Lương Lỗ (Thanh Ba) được bàn giao cho xã tháng 9-2003, công suất thiết kế 690m3/ng.đ, tổng kinh phí đầu tư lên tới hơn 1,6 tỷ đồng, hiện chỉ khai thác được giếng khoan số 1 (LK1), giếng khoan số 2 không khai thác do khi bơm nước cuốn lên theo rất nhiều huyền phù. Hiệu quả công trình chỉ đạt... 20%! Nước khai thác không được phân tích chất lượng, chế độ duy tu bảo dưỡng , thổi rửa giếng khoan không được làm theo quy định.
Tại thị trấn Cẩm Khê (Cẩm Khê), công trình nước sạch có tổng đầu tư hơn 1,4 tỷ đồng, giếng khoan số 2 (LK2) bị sụt lún thành giếng với đường kính 0,5m, sâu 0,6 m; hệ thống xử lý đã bị suống cấp, bể chứa nước trung gian bị nứt nẻ, hệ thống giàn mưa quá thấp, công trình khai thác chỉ đạt 72% công suất thiết kế. Công trình của xã Hoàng Xá (Thanh Thuỷ) được đưa vào sử dụng năm 2003 với tổng mức đầu tư tới hơn... 2,5 tỷ đồng, không hiểu khi khoan thăm dò thế nào mà mùa khô thì không có nước, nên nhân dân mặc dù đang "sở hữu" một công trình nước sinh hoạt thuộc loại "hoành tráng" của tỉnh nhưng vẫn phải "kỳ cạch" kéo nước giếng đào để sinh hoạt hàng ngày. Ở hàng loạt các xã như: Chí Đám (Đoan Hùng) Xuân Huy (Lâm Thao) Đồng Thịnh (Yên Lập)... công trình nước sạch có trị giá đầu tư hàng tỷ đồng cũng đang bị...bỏ dở do nhiều nguyên nhân. Công trình không sử dụng thì tất nhiên là đang hàng ngày xuống cấp, nước không được khai thác, nhưng khi đem vấn đề này ra trao đổi thì cơ quan quản lý, thi công, chủ đầu tư nêu ra hàng loạt lý do.
Tuy nhiên, bất kể vì lý do gì , nhưng những công trình...tiền tỷ vẫn đang "thi gan" cùng tuế nguyệt , kéo theo sự xuống cấp, thất thoát và lãng phí cho ngân sách nhà nước và không biết đến bao giờ mới được vận hành cho nó "làm đúng" chức năng cao cả của mình?... Xin được trích một kết luận để "minh chứng" cho những thông tin trên... :"Trong tổng số các công trình đã kiểm tra, có 15-20% công trình thi công chậm, 57% công trình có hiệu quả khai thác, sử dụng thấp và xuống cấp nghiêm trọng, chỉ có 43% công trình hoạt động có hiệu quả...". Có nước chưa chắc đã ....sạch! Một tài liệu chúng tôi có được trong quá trình tìm hiểu vấn đề này là toàn tỉnh hiện có tới 18 công trình (chưa kiểm tra hết) không có hồ sơ, giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Vậy là đã rõ ràng, chủ đầu tư hoặc bên B đang...phạm luật khi mà Luật tài nguyên nước đã quy định cụ thể . Không hiểu hai bên đang "lách" luật hay giảm chi phí xây dựng bằng cách này (?). Không chỉ dừng lại ở đây, hầu hết các công trình nước sạch trong quá trình khai thác hàng năm đều không được phân tích chất lượng nước theo quy định, hầu hết đều dựa vào các thông số " nước sạch" khi bàn giao.
Đây là một vấn đề bắt buộc phải làm định kỳ khi công trình vẫn còn khai thác và bán cho dân. Tuy nhiên, "không biết, không thấy và không hiểu", các HTX cứ khai thác, cứ bán cho dân mà không cần biết là nước sạch có còn... sạch không? Thậm chí, có một vài công trình đang khai thác, nước bơm lên có mầu vàng, khi đem vấn đề này hỏi cơ quan đầu tư xây dựng thì được trả lời một câu rất vô tư..." không vấn đề gì đâu, nước nhiễm sắt nên có mầu như vậy, vẫn dùng được tốt..."! Thông thường "tuổi thọ" một công trình nước sạch khoảng 20 năm sử dụng, thế nhưng không ít công trình chỉ qua sử dụng khoảng một hai năm là xuống cấp ngay và đã xuống cấp là coi như...bỏ đấy, vì bên được giao quản lý lấy đâu ra tiền mà ...sửa? Tuy nhiên vì nhu cầu bức thiết của mình người dân vẫn phải mua, phải dùng hàng ngày và họ đang hàng ngày phó mặc sức khoẻ của mình trong cơn khát nhiều năm vẫn chưa có giải pháp tháo gỡ. |