TRANG CHỦ
Diễn đàn | Liên hệ
Tin tức - Sự kiện
Thế giới
Xây dựng Đảng
Xã hội
Khu di tích Đền Hùng
Kinh tế
Thơ - Truyện ngắn
Đầu tư - Phát triển
Khu CN - Cụm CN
Khoa học - Công nghệ
Giáo dục - Đào tạo
Thể thao
Sức khỏe - Đời sống
Người tốt - Việc tốt
Thế giới quanh ta
Phóng Sự - Ghi chép
Du lịch - Lễ hội - Ẩm thực
An ninh - Quốc Phòng
 
Tìm kiếm nâng cao
Thứ năm, 16/02/2006 14:10 GMT+7
 
 

 Chuyện của giáo viên cắm bản 

Lớp học của học sinh Khe Nhồi trong giờ học nhạc của thầy giáo Nguyễn Như Quý, giáo viên cắm bản.
(PTĐT) Giáo viên cắm bản – cái từ này là nỗi sợ của bao người khi mình được giao nhiệm vụ. Thế nhưng, tại các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh, hàng ngày đang có hàng trăm các thầy cô giáo cắm bản vẫn bất chấp khó khăn, gian khổ và những thiệt thòi, dù mưa hay nắng, đang hàng ngày tận tâm, tận tụy lên lớp, bám bản, bám trường, bám học sinh… để truyền thụ cho các em những kiến thức đầu đời, giúp cho các em đi tìm và tìm ra “nguồn sáng” của chính mình…

Người đầu tiên tôi quen ở xã Trung Sơn (Yên Lập) đó là thầy giáo Vi Công Thúy. Sau đó mỗi lần vào công tác tôi thường tìm đến “tá túc” qua đêm, còn cơm nước thường thì kệ vợ chồng anh, cho gì ăn nấy. Thúy không phải quê gốc ở Trung Sơn, mà ở mãi tận ngoài Mỹ Lung kia, nơi đấy cũng xa xôi và vất vả không kém gì quê hương thứ hai của anh, như có lần anh đã tâm sự. Tốt nghiệp 10+2, chẳng hiểu duyên số thế nào với vùng đất khó này mà anh lại vào tận đây công tác, và cũng tại đây, anh lại lập gia đình với cô bác sỹ cắm bản, từ đó cho đến nay đã ngót nghét chục năm, hai vợ chồng anh dường như có ý định “chốt chặt” ở nơi này. Nhà ở thì làm tạm, cái gì cũng tạm, có thời, để cho tiện cả vợ cả chồng, cả hai đã ra ngoài trạm xá của xã để ở nhờ, coi đây như ngôi nhà hạnh phúc. Nay thì cũng đỡ, chị Vinh, vợ anh giáo Thúy bảo, bọn này vừa được xã cho mượn một thửa đất thế là đã có chỗ cắm dùi, ba gian nhà nhỏ như cái lán đốt nương đã được dựng lên trên mảnh đất đó. Trong nhà, nhìn quanh đã thấy có cái ti vi, đầu Trung Quốc để xem ca nhạc. Nhiều lần vào đêm nằm nghe tôi gợi chuyện giáo viên cắm bản, Thúy bảo – khổ nhất giáo viên cắm bản, toàn chuyện buồn, có gì mà kể, cứ chịu khó lên đây ở vài tuần là biết ngay mà, không lại bảo bọn này ở đây chỉ hay kêu khổ. Biết Thúy là một trong những người đầu tiên có mặt và lặn lội đem cái chữ lên cho con trẻ nơi đây, nên tôi cứ gạ gẫm, vì biết anh là một cái “kho” chuyện về giáo viên cắm bản và cũng chính anh là một kẻ “tiên phong” ở trong cái trường tiểu học Trung Sơn này dám “đem chuông đi đánh xứ người” khi một mình, một đèn, từng đêm cặm cụi làm bản kiến nghị thay đổi sách giáo khoa, cách dạy và trình bày của sách lớp 4-5 tiểu học, rồi được mời đi hội thảo, đi tập huấn tận trên Bộ… Kỳ kèo mãi, rồi Thúy cũng kể cho tôi chuyện cuộc sống của giáo viên cắm bản, nhiều chuyện vui, cười nổ như ngô rang nhưng cũng có chuyện buồn như mưa núi, mưa rừng. Trong ánh lửa bập bùng của bếp lửa, tôi đã được Thúy kể cho nghe nhiều câu chuyện. Chuyện rằng một lần, khi vào dạy lớp cắm bản ở bản Mông, khe Nhồi, một bản toàn người Mông di cư từ bên Văn Chấn (Yên Bái) sang, người lớn thì không biết chữ, họa hoằn có người biết thì cũng lõm bõm, mà trẻ con thì bẩn kinh người, ăn ngủ lê la đầy sân, mọi góc nhà có thể, đàn bà Mông khi hỏi thì chỉ biết cười và rúc đầu vào góc bếp mà lắc đầu, quanh năm ở nhà, ngồi bậu cửa đan váy, mùa hè thì cởi trần ngồi bên bếp lửa, cây rau không trồng, cây đu đủ chờ cho có hoa, ra quả và hái xuống ăn, không cần biết quả to, quả nhỏ, con lợn con gà ở cùng người, ăn cùng một bếp… cuộc sống của họ lạc hậu đến vậy lặn lội vào dạy học, đâu có dễ gì dạy được ngay, còn phải làm quen, phải học tiếng, phải đi vận động từng nhà, mỏi hết cả miệng, chùn cả đôi chân vì lội suối, trèo đèo… Thế rồi lớp học đầu tiên ở Khe Nhồi cũng được mở, ban đầu chỉ vài đứa học sinh, cóc cáy, bẩn thỉu, chỉ rình trốn học theo bố mẹ lên rừng, mà dạy đâu có dễ, mãi mới được một chữ, nay học mai quên, dường như cái việc học là một việc hoàn toàn xa lạ, xa lạ như lần đầu cầm bút, dở vở, hay lần đầu tiên ngọng ngịu ghép vần… hình như chúng chỉ quen đi nương, đi rẫy, cái tay chỉ thích chặt cây, đào củ hay sao ấy. Thúy nhớ lại, mới dạy được vài buổi thì lần ấy, khi huyện yêu cầu mượn hộ hơn chục cái váy Mèo để đem làm mẫu chụp ảnh cho nó có không khí “dân tộc” thế là Thúy lặn lội vào tận bản mượn và đem váy ra, mà đâu có phải dễ mượn, vì đàn bà con gái Mông không như người miền xuôi, ai cũng có vài bộ quần áo, ở đây, họ chỉ có hai đến ba bộ là cùng, và quanh năm ngày tháng “diễn” hai bộ ấy, váy Mông thì đâu có nhẹ, nặng từ 2 đến 3kg, cho con gái Kinh mặc thử thì chỉ có nước… bò vì quá nặng, quá rườm rà những dây dợ lằng nhằng, mượn được rồi, hình cũng chụp song, Thúy lại đem vào trả cho dân. Và lần này mới là lần đáng nhớ nhất trong đời giáo viên cắm bản của anh, chẳng hiểu ai vào trước, tung tin là Thúy cho mượn mỗi bộ váy được hai chục, thế là dân bản ùa ra, túm lấy anh… đòi tiền thuê váy, tiền thì không có, giải thích không ai hiểu, mặc dù đã nhận mình là thầy giáo, nói không ai tin, người lớn thì đi nương chưa về, người quen thì không thấy, Thúy đành “thúc thủ” trong nhà của một người dân và ngồi im trước những ánh mắt dữ dằn của đám thanh niên, nhìn anh như nhìn con gấu, con nai khi về phá rẫy, phá nương… mãi đến tận 8 giờ tối, vừa sợ, vừa đói, vừa rét, vì không được ăn cơm, thì may quá có bố của đứa học sinh đi rừng về, cũng sang xem mặt cái thằng “lừa” bà con, nhìn thấy thầy giáo, ông ta mới ồ lên – không phải cái thằng xấu đâu, cái thầy giáo nó dạy trẻ con ta đấy… và thế là nhờ sự “bảo lãnh” của ông ta, Thúy mới được thả ra, và “hành trình” quay ra là gần 5km đường rừng nhỏ như sợi chỉ với hai bó đuốc, bụng đói, vừa đi vừa dò đường, nhiều lúc như là bò ra đường mà đi, nghĩ mà thấy mình khổ thế… về được đến nhà hôm ấy là gần 12 giờ đêm, đói, rét, sợ… bao nhiêu cảm giác ập vào, tưởng là sau đận ấy sẽ không bao giờ dám vào bản Mông… Thế nhưng vẫn vào, mà lại còn vào nhiều hơn, thường xuyên hơn, nay thì cũng như các thầy cô giáo khác, bản Mông ai cũng biết Thúy và quý các thầy cô giáo cắm bản, lợn mổ đem cho vài miếng, lỡ mưa quá không ra được đem cho vài ang gạo, nhà ai có việc là các thầy cũng được một chân uống rượu như người nhà…Tôi nói đùa với Thúy: Các giáo viên cắm bản sau này khi “hết hạn” Trung Sơn mà chuyển sang làm cán bộ dân vận thì chỉ có mà nhất.

Giáo viên cắm bản thì đúng là có đủ thứ chuyện vui, chuyện buồn, có chuyện có chuyện như là bịa nhưng lại thật, thật đến… thắt lòng. Cô giáo Huệ, năm ngoái còn dạy ở Khe Đâng, ở một mình một phòng, nhớ lại “… nếu mưa thì có khi cả tháng mới nhìn thấy mặt chồng, mặt con vì có ra được ngoài đâu, chợ thì cứ một tuần đi một buổi, mua ăn cho cả tuần luôn…”, nhiều khi học sinh còn phải đến ngủ cùng cô giáo cho vui và đỡ trống trải, cô Huệ bảo, học sinh ở đây đi học vất vả lắm, nhiều em khi đến lớp, thấy cứ xỉu đi, hỏi ra mới biết là đói quá, cô giáo lại phải cho ăn mỳ tôm mới có sức học tiếp, nhiều đứa bỏ học mấy hôm, khi đi học lại, mới biết vì nhà đói quá, phải đi xoi tắc kè cùng bố bán lấy tiền mua gạo. Đường xa và khó đi, học sớm, có em đi từ khi còn tờ mờ, tay cầm theo cây đuốc xoi đường. Học sinh có đứa còn phải đến nhà năm lần bẩy lượt vận động mới đi học kia. Thầy Đinh Văn Chức – một thầy giáo trẻ chưa vợ, là một trong những người đầu tiên vào dạy ở Khe Nhồi hồi mới thành lập lớp cắm bản tới giờ nhớ lại “… Trước đây học sinh không đi học vì đều là con em người Mông từ bên Yên Bái sang, từ khi họ định cư ở đây thì mới cho trẻ con đi học, mà có phải bảo cái là đi học ngay đâu, phải đi vận động, đi học rồi các thầy còn phải đi làm giấy khai sinh cho nữa chứ… vất vả lắm”. Cả bản Mông hồi mới sang chỉ có bà Thắng – phó bản là biết chữ thôi, còn hầu như là mù tịt (mà bà Thắng là người Kinh lấy chồng người Mông mãi tận bên Văn Chấn kia). “Cắm bản” quá lâu nên bây giờ thầy Chức đã như người Mông rồi, tiếng Mông thạo lắm, cả phong tục nữa, cả bản ai cũng quý, cũng thương. 28 tuổi chưa vợ và cũng không biết đến bao giờ được ra ngoài, nên nhiều khi ý định lập gia đình bị cái khó, cái khổ của giáo viên cắm bản nó “dìm” xuống, không còn đầu óc đâu mà nghĩ tới nữa, mặc dù ông bà ngoài nhà đã nhiều lần giục. Chức đùa với tôi “con gái nó dại gì mà lấy em, vừa khổ, vừa nghèo lại vất vả xa xôi thế này...”. Mà đúng là khổ thật, chỗ ở thì chật, toàn rệp, tôi ngủ cùng Chức một đêm ở bản mà khi về, hơn một tuần sau mới hết vết rệp cắn, ăn hai bữa cơm thì không quen thức ăn, đi ngoài rỗng cả ruột ra… Chức bảo hồi mới vào khổ lắm, tiếng không biết, bà con còn e dè, đường thì khó đi nên ra vào vô cùng vất vả, có khi vài tuần mới ra ngoài một lần, mà toàn đi bộ thôi, rau thì đầu tuần có, cuối tuần không, toàn cá khô ăn rát cả ruột, đi xin cũng không được vì bà con không trồng rau như người Kinh… hai thầy giáo trẻ, một nồi cơm, đĩa cá khô nát… cứ nhìn nhau mà “ứa nước mắt”, nhưng nay thì… khổ mãi quen rồi, cái khổ, cái vất vả dường như đã lặn sâu vào trong nhường chỗ cho sự vui tươi của tuổi trẻ và tình yêu nghề, hỏi Chức đã có người yêu chưa, Chức bảo “trước có rồi, nhưng sau thì họ bỏ mình vì thấy mình vất vả quá…”. Thầy Quý, nhà tận Việt Trì vào đây đã mấy năm rồi cũng trong hoàn cảnh tương tự, tuần đi, tuần về. Mưa gió có khi cả tháng không ra được Việt Trì, năm nay đã băm… mấy mà chưa có ai, thi thoảng gặp ở Việt Trì chỉ thấy một mình một xe, hỏi tới chuyện vợ con chỉ thấy lắc đầu quầy quậy! Một câu chuyện làm tôi nhớ mãi về cái sự khó khăn vất vả của các thầy cô giáo nơi đây, đó là lần vào bản, gặp trên đường thầy Nguyễn Kim Đính và cô Bùi Thị Thu đang vào lớp cắm bản trường khu Nhồi, là ngày đầu tuần nên đồ đạc mang theo cũng lỉnh kỉnh, nào mướp, rau, hành, măng, cá khô, nước mắm… mỗi thứ một tý, thầy Đính còn mang theo một con chó con nằm ngật ngưỡng trong giỏ xe máy, chắc cu cậu mệt vì đường vừa xa vừa xóc, hỏi thì thầy bảo trong này buồn lắm, mang nó đi vào nuôi cho đỡ buồn, các thầy cô mời chúng tôi vào chơi. Nhớ lời hẹn, chiều hôm đó chúng tôi quay vào trường, vào nơi ăn ở của các thầy cô, chỗ ở là một cái trái nhà ngay đầu lớp học, hỏi có mấy người ở, thầy Đính bảo 4 người, không tin được vào tai mình khi thầy “giới thiệu” là tôi đang ở cùng với… ba cô giáo, trong cùng một phòng vì có chỗ ở đâu mà chẳng phải chịu như vậy. Thật là quá khổ, quá bất tiện và đây cũng là câu chuyện hy hữu trong làng giáo viên khi mà căn phòng chưa đầy 15m2, vách là những tấm ván ghép, nhà nền đất, có mỗi hai cái giường mà chứa tận 4 người, vừa là chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ soạn giáo án… tất tần tật.

Giáo viên cắm bản có điều lạ là giáo viên vùng ngoài vào dạy thì được hỗ trợ thêm tiền, còn chính giáo viên ở đây thì không! giáo viên cắm bản – dường như nghề này chỉ dành cho những người kiên nhẫn, chịu khó, chịu khổ và họ luôn là những người thiệt thòi nhất trong mọi lĩnh vực, từ chuyện trau rồi kiến thức, cơ hội học tập, cuộc sống khó khăn đến chuyện tình cảm… thế nhưng vượt lên tất cả, hàng ngày nơi núi rừng heo hút, họ vẫn cặm cụi, vẫn tận tụy vì sự nghiệp trồng người, đem cái chữ cho con trẻ vùng cao và dạy cho chúng làm người, làm những điều tốt đẹp mà bố mẹ chúng chưa có cơ hội được làm.

 
Quốc Hội
In trang ]   Gửi email ]   Phản hồi ]       Về đầu trang ]   Quay lại ]  

Các tin đã đưa

 ▪ Z121: Nơi tạo “hoa trời” (14/02/2006)
 ▪ Bao giờ UBND xã Cự Thắng trả nợ cho dân?(10/02/2006)
 ▪ Mùa xuân về với cội nguồn(09/02/2006)
 ▪ Hồ Xuân Hương và những ngày làm dâu ở Tứ Xã (Lâm Thao)(09/02/2006)
 ▪ Vào vùng đất của những huyền thoại...(08/02/2006)
 ▪ Trên rẻo biên cương(19/01/2006)
 ▪ Mảng mầu sáng trên bức tranh "xóa đói, giảm nghèo"(18/01/2006)
 ▪ Việt Trì… "Cầu quán"(17/01/2006)
 ▪ Đi tua trên sông Đà(16/01/2006)
 ▪ Nưa Thượng im tiếng súng săn...(13/01/2006)
 ▪ Xã Yên Tập – Căn bệnh hiểm nghèo cướp đi sinh mạng nhiều người?(12/01/2006)
 ▪ Tiên Du - Mùa ... khát(04/01/2006)
 ▪ An toàn giao thông đường thủy: Vẫn còn nhiều ẩn họa! (13/12/2005)
 ▪ Nhọc nhằn nghề "hành xác"(09/12/2005)
 ▪ Chuyện buồn bên núi Cẩn(03/12/2005)
Tin đáng chú ý
Xã Yên Tập – Căn bệnh hiểm nghèo cướp đi sinh mạng nhiều người?
An toàn giao thông đường thủy: Vẫn còn nhiều ẩn họa!
Nơi lũ đi qua
Đến bao giờ nhà máy thép Bạch Hạc... có điện để sản xuất?
Hạ Hòa oằn mình trong lũ dữ
“Hoang đảo” giữa đại ngàn
Chiến công thầm lặng của lực lượng công an trong quá trình phá vụ án ma túy lớn nhất nước: Vào hang bắt cọp
Rừng núi Quyền đang bị "rút ruột"?

  • Bản quyền thuộc Báo Phú Thọ.  Trụ sở tòa soạn: 2179 Đại lộ Hùng Vương - Gia Cẩm - Việt Trì - Phú Thọ
     Điện thoại 0210.846.508 - Fax: 0210.846.508  Email: info@baophutho.org.vn    Website: www.baophutho.org.vn
  • Giấy phép thiết lập số 586/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VHTT cấp ngày 31/12/2004
  • Thiết kế bởi Công ty Cổ phần phần mềm Quảng Ích