TRANG CHỦ
Diễn đàn | Liên hệ
Tin tức - Sự kiện
Thế giới
Xây dựng Đảng
Xã hội
Khu di tích Đền Hùng
Kinh tế
Thơ - Truyện ngắn
Đầu tư - Phát triển
Khu CN - Cụm CN
Khoa học - Công nghệ
Giáo dục - Đào tạo
Thể thao
Sức khỏe - Đời sống
Người tốt - Việc tốt
Thế giới quanh ta
Phóng Sự - Ghi chép
Du lịch - Lễ hội - Ẩm thực
An ninh - Quốc Phòng
 
Tìm kiếm nâng cao
Thứ năm, 09/02/2006 10:11 GMT+7
 
 

Hồ Xuân Hương và những ngày làm dâu ở Tứ Xã (Lâm Thao)

Ngôi nhà Tổng Cóc - Nơi Hồ Xuân Hương đã sống và đề thơ, hiện giờ ông Kiều Phú đang bảo quản ở Sơn Dương (Lâm Thao).

(PTĐT) Thơ của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương thì hình như người Việt Nam từng đọc thơ, ai cũng thuộc… dăm bài. Nhưng, bà là ai, sinh năm bao nhiêu, số phận "rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn" như thế nào và nhiều điều quan trọng liên quan đến bà nữa vẫn nằm lửng lơ trong thắc mắc của cả những chuyên gia nghiên cứu tài danh nhất, của nhiều quốc gia...! Nhiều năm qua, ở hai xã Tứ Xã và Sơn Dương (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) ai ai cũng lưu truyền câu chuyện về mối tình của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương với ông Tổng Cóc (nhân vật trong bài thơ nổi tiếng "Khóc Tổng Cóc" của bà). Tứ Xã là quê ông Tổng Cóc thật. Tại xã có cả ngôi nhà cổ của gia đình Tổng Cóc với bức vách có bút tích, đôi lọ lục bình gỗ có đề thơ chữ Hán cùng nhiều hiện vật khác mà bà con tin rằng đều là "thủ bút" của là của Hồ Xuân Hương. Nhiều nhà văn hóa, khoa học, nhiều du khách đã tìm về Lâm Thao mong lí giải những huyền sử này...

 Xuất thân của bà chúa thơ Nôm?

Lịch sử văn học Việt Nam viết về nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng rất sơ sài. Người ta thậm chí còn coi bà là một hiện tượng, là người đứng mũi chịu sào cho cái dòng thơ nanh nọc, móc máy mà đa sầu đa cảm  ấy nhiều hơn là một tác giả cụ thể (?) Theo tác giả Lê Xuân Sơn viết trong tập "Hồ Xuân Hương thơ và đời" thì Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, con của ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783), quê ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mẹ Hồ Xuân Hương là người Hải Dương, làm vợ lẽ ông Hồ Sĩ Danh. Nhưng, tài liệu khác lại trích dẫn trong Hồ Quỳnh Gia Phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu) cho rằng: bà Hồ Xuân Hương sinh năm 1772 mất năm 1822, là con ông Hồ Phi Diễn ở làng Quỳnh Đôi. Có tài liệu lại phân tích, Hồ Xuân Hương và anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là có chung ông tổ 5 đời (?).

Nhưng có một điều chắc chắn: Hồ Xuân Hương sống vào thời Lê mạt Nguyễn sơ, người cùng thời với Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Đình Hổ (tức Chiêu Hổ, 1768-1839). Hồ Xuân Hương học rộng tài cao, uyên thâm cả Nho, Lão, Phật, và đặc biệt có tài ứng đối, sử dụng điển tích tài tình. Nhiều bậc trí giả đương thời phải công nhận bà là người "Tài cao nhã phượng thế gian kinh"; có tài liệu ghi rõ: Đại thi hào Nguyễn Du từng so sánh bà với nàng Tiểu Thanh tài sắc lừng lẫy bên Trung Hoa. Thơ văn của bà dễ khiến người ta nghĩ đến chữ "dâm tục", với nhiều í tứ lẳng lơ, mỉa mai, táo bạo, phá cách, tinh nghịch nhưng sâu xa là nỗi lòng của một người phụ nữ có tài, có sắc, mang nhiều khát vọng sống; song chịu quá nhiều hẩm phận trong chế độ hà khắc cũ…

Những câu chuyện sinh động...

Nhiều tài liệu cho rằng: trước khi kết hôn với ông phủ Vĩnh Tường, bà Hồ Xuân Hương có làm lẽ ông Tổng Cóc một thời gian, hai người chung sống tại làng Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ngày nay. Bài khóc ông phủ Vĩnh Tường được nhiều người xếp vào dạng kiệt tác khóc chồng trong văn học sử, với những câu thống thiết: "Cán cân tạo hóa rơi đâu mất/ Miệng túi càn khôn khép lại rồi/ Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc/ Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!". Nhưng bài khóc ông Tổng Cóc thì lại gây rất nhiều tranh cãi:

"Chàng cóc ơi chàng cóc ơi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi,

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhỉ

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!".

Hồ Xuân Hương làm lẽ ông Tổng Cóc thì đúng rồi, nhưng việc bà khóc ông

Mẹ đẻ anh Bùi Văn Thắng và bà cụ nhà ông Thâm bảo vệ đôi lục bình gỗ mít sơn then trên bàn thờ.

ấy là khóc người chết hay khóc đưa tang một cuộc tình trắc trở? Chàng Cóc là ai mà lại lấy được bà chúa thơ Nôm về tận miền trung du xa tít ấy - mà lại chỉ cho làm vợ lẽ? "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng" (thơ Hồ Xuân Hương). Trước đây, chúng tôi được học rằng, bà Hồ Xuân Hương khóc Tổng Cóc khi ông ấy chết đi rồi. Nhưng bây giờ, về hai xã Tứ Xá và Sơn Dương tìm hiểu mới vỡ lẽ ra cả làng đều nói rằng, đó là bài thơ khóc ông Tổng Cóc khi ông này vẫn sống sờ sờ.  Hơn 80 tuổi, cụ Nguyễn Đình Hảo ở Tứ Xã khẳng định như đinh đóng cột: "Hồ Xuân Hương từng làm vợ lẽ cụ Tổng Kình (tức Tổng Cóc, ông này tên tự là Nguyễn Công Hòa, tổ 8 đời nhà cụ Hảo), khi đó đang làm phó tổng được hưởng hàm bát phẩm văn giai. Tiếc rằng, cuốn gia phả đã bị bọn Pháp đốt cháy từ hồi năm 1951". Cụ Dương Văn Thâm, hơn 90 tuổi, Hội viên kỳ cựu Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hiện ở Tứ Xã (Lâm Thao) cũng đã dày công hoàn thành một công trình về "Chàng Cóc" và mối tình với bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng có kết luận như vậy. Theo đó, chuyện về "cô con dâu đỏng đảnh" Xuân Hương vẫn được người trong làng kể vanh vách cho đến tận giờ phút này, dẫu rằng, dễ đến 200 năm đã trôi qua kể từ khi nữ sĩ về làm vợ Tổng Cóc. Điều lạ nữa là những lời kể của người làng về bà Xuân Hương rất thống nhất: không ưa gì cô con dâu lắm nết xấu: không biết cấy cày, chỉ quanh quẩn thơ văn nhảm nhí; dáng thanh yểu điệu chứ không "lưng ong đùi dế" như tiêu chí bà con vẫn hằng dùng để chọn con dâu. Tổng Cóc đa tình và giầu có, chàng lấy Xiuân Hương về chỉ để... ngắm mà thôi, chứ nàng có biết việc đồng áng gì? Tứ Xá là đất thuần nông, lam lũ, cái vioệc ngồi thành thơi thơ phú của nàng lại càng khó coi. Tổng Cóc làm cả nhà thủy tạ nhìn ra hồ nước rộng để Xuân Hương dạy học và "trông coi hồ cá". Mỗi lúc có bạn thơ phú, thi sỹ họ Hồ lại cho người đánh cá dưới hồ để đãi khách, nhưng mỗi lần Xuân Hương cho người đánh cá lên xơi thì nàng chỉ ăn khúc giữa còn bỏ đầu bỏ đuôi. Điều này khiến người làng quay ra nhiếc móc Xuân Hương là ăn tàn phá hại, nhà Tổng Cóc giàu thế đã ra mẽ gì, sẽ tán gia bại sản vì cái sự "õng ẹo" ấy thôi...   Xuân Hương sống trong cô độc, bi kịch cũng từ đấy mà ra... Nhìn đi đâu cũng thấy người soi mói,đặc biệt cay nghiệt là bà vợ cả. Tổng Cóc dần cũng nản lòng, chàng chán nản cất bưpức phiêu du, bỏ lại lá thư buồn dưới gối Xuân Hương. Lúc trở về, nàng cũng đã ra đi, mang thai 3 tháng tuổi. Tổng Cóc đau buồn đi dò la thì té ngửa ra nàng đa đoan ấy đã làm vợ ông phủ Vĩnh Tường. Tính ngày, tính tháng đứa con trong bụng Xuân Hương, đến kỳ khai hoa nở nhụy, Tổng Cóc lân la xuống tìm con mới chết đứng nghe tin: Con của hai người cũng đã không sống được kể từ lúc lọt lòng. Chàng tay không ra về, lòng buồn vô hạn. Thời gian sau chàng nhận đượck bài thơ "Khóc Tổng Cóc" như một lời giã biệt vĩnh viễn. Bài thơ khóc cho một mối tình đã chết chứ không phải khóc một thi hài. Vì thế mà ai oán hơn, oán trách hơn, song cũng day dứt và nặng nghĩa tình hơn: "Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!".

 

Đôi lục bình mà bà con cho rằng nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã để thơ trong thời gian làm lẽ Tổng Cóc.

Cả làng cả tổng đều kể một câu chuyện giống nhau, khiến người ta không thể không tin đó là sự thực. Khi các nhà nghiên cứu về tìm hiểu, thì hóa ra Tổng Cóc không trọc phú, cũng không xấu như… cóc. Tổng Cóc có tên thường gọi là Kình, người làng Gáp, Tứ Xã là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn Quang Thành. Tổng Cóc quen cha con Hồ Xuân Hương khi cùng mấy anh khóa làng lều chõng đi dự một khoa thi Hương. Chằng hiểu cơ duyên thế nào, cụ Đồ Xứ (đỗ đầu toàn xứ nên khi tham gia gõ đầu trẻ bà con gọi là Đồ Xứ) người Nghệ An đã dắt con gái ra về làng Sơn Dương để dạy học. Cô gái ấy là Hồ Xuân Hương. Ba anh khóa làng là Tú Điếc, Nho Trâm, Tổng Cóc cùng mê đắm Xuân Hương. Nhưng "Bà chúa thơ Nôm" chỉ phải lòng mỗi một anh Tổng Cóc, dẫu anh này, khi ấy, đã có vợ con đuề huề. GS Lê Trí Viễn viết sau quá trình tâm huyết nghiên cứu ở Tứ Xã đã đưa ra kết luận : "Tổng Cóc không phải là một anh trọc phú, mà là một nho sĩ từng có phen lều trõng như ai và trong sự gặp gỡ Hồ Xuân Hương có chuyện chữ nghĩa, chứ chẳng phải do đồng tiền".

...Và những "di vật" của Bà chúa thơ Nôm ở Tứ xã, Sơn Dương

Câu chuyện về mối tình này còn đi đến hồi thú vị hơn khi mà ở làng Tứ Xã hiện nay, bà con còn trân trọng giữ gìn được nhiều kỉ vật mà cả làng cả xã đều tin rằng đó là của cặp vợ chồng Tổng Cóc - Hồ Xuân Hương.  Đó là một đôi lục bình có khắc chữ Hán, gia đình anh Bùi Văn Thắng đang lưu giữ. Lục bình gỗ mít, phủ sơn then đen bóng tương truyền là khi còn ái ân mặn nồng, con người hào hoa văn võ toàn tài Tổng Cóc đã yêu cầu vợ lẽ của mình - bà chúa thơ Nôm đề thơ lưu bút tích.

Đôi lục bình vốn được đặt trên bàn thờ nhà Tổng Cóc, sau này kinh tế sa

Bậu cửa cũng được chạm khắc hình lưỡng long chầu nguyệt rất ngông và phá cách.

sút, đã phải bán tất đi. Bà cụ già mẹ anh Thắng và bà lão nhà cụ Thâm cvặm cụi lau đôi lục bình gỗ mít phủ sơn then lan man chìm trong bụi bặm, mạng nhện và tàng nhang. Phú chốc nước thời gian, nước sơn cổ ánh lên như soi gương được (xem ảnh). Không biết có phải là chữ của bà chúa thơ Nôm không nhỉ? Thật khó đoán định, Chỉ biết rằng cả tổng, cả làng đều tin như thế. Và con cháu ông Tổng Cóc đã nhiều lần sang xin chuộc lại đôi lục bình, có cả những Việt Kiều từ Liên bang Nga và Canada về gạ mua những kỷ vật của bà chúa thơ Nôm nhưng anh Thắng không bán... Cách nhà anh Thắng một cánh đồng, ngôi nhà lớn, làm toàn bằng gỗ quí, lợp ngói âm dương của gia đình Tổng Cóc vẫn được gia đình nhà giáo Kiều Phú trân trọng giữ gìn. Ngôi nhà được làm cầu kì tới mức, đến cả cái ngưỡng (bậu) cửa ra vào cũng được trạm hình lưỡng long chầu nguyệt - rất phá cách và chơi ngông (xem ảnh). Khoảng 200 năm qua, người hai xã Tứ Xã, Sơn Dương ai ai cũng vẫn gọi đó là ngôi nhà ông Tổng Cóc. Con cháu ông Tổng Cóc giờ nhiều người vẫn sống ở làng, và đã nhiều lần ngỏ í muốn chuộc ngôi nhà về để làm nhà thờ. Nhiều thế hệ học trò cấp 3 ở tỉnh Phú Thọ vẫn thường được nhà trường đánh ô tô đưa về nhà ông Kiều Phú để tham quan những hiện vật liên quan đến cuộc hôn nhân Tổng Cóc - Hồ Xuân Hương, khi các em học sinh học đến phần về cuộc đời và thơ văn của bà chúa thơ Nôm. Gần 200 năm trôi qua, vượt bao thiên tai, giặc dã, ngôi nhà vẫn vững chãi. Cụ bà thân sinh ra ông Phú hơn 100 tuổi là người vẫn nhớ rất nhiều chuyện do cha mẹ kể lại liên quan đến bà Hồ Xuân Hương những ngày thi sỹ làm âu đất Tứ Xã, cũng như sự tích ngôi nhà cổ của Tổng Cóc. Hiện, trên bức vách bằng gỗ mít phiến dày phía trong nhà, còn lưu những dòng "thủ bút" được kể là của chính Hồ Xuân Hương đã "ngẫu hứng, mài mực, đề thơ". Dòng chữ như sau: "Thảo lai băng ngọc kính/ Xuân tận hóa công hương"; và "Độc bằng đan quế thượng/ Hảo phóng bích hoa hương". Cụ Dương Văn Thâm dịch nghĩa bốn câu này trong công trình "Chàng Cóc là ai" của mình như sau: "Tấm gương trong trắng ví như người con gái trong trắng/ Nhưng hết tuổi xuân sắc rồi thì thợ trời cũng chịu (không níu giữ được)/ Chỉ còn biết dựa vào phúc đức, con cháu/ (Thì khi ấy) hương thơm sẽ tỏa đi khắp muôn nơi". Cái cây hết xuân sắc rồi thì thợ trời cũng chịu, đúng là khẩu khí của Hồ Xuân Hương! Qua thời gian, do nhiều nhà quản lí địa phương, nhà nghiên cứu, người tham quan đã khiêng cả bức vách gỗ ra để bôi thuốc hiện màu vào nhằm in rập những nét chữ quí; qua nhiều mùa nước ngập, dòng chữ đã mờ đi rất nhiều.

Không biết, qua những câu chuyện, những hiện vật thuyết phục, sinh động, bất ngờ và hấp dẫn còn lưu giữ ở hai xã Tứ Xã, Sơn Dương (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) như thế, số phận và sự nghiệp thơ văn mang nhiều dấu hỏi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương có rõ nét lên được chút nào? Xin thưa, mặc các nhà nghiên cứu cứ đặt dấu hỏi: người Tứ Xã luôn rất rõ ràng, rằng là, ông Tổng Cóc của làng Gáp cổ kính có lấy một bà Hồ Xuân Hương hay làm thơ dâm tục về để làm vợ lẽ; và nhất định, trong tư cách là dâu của làng thì nàng dâu ấy thật "xấu tính", nàng dâu ấy đã nhập gia mà chẳng chịu tùy tục gì cả. Nàng bỏ đi và sớm lấy ông phủ Vĩnh Tường khi bụng còn mang hòai thai giọt máu của ông Tổng Cóc. Đứa con sinh ra cũng là hữu sinh vô dưỡng. Đấy, người nông dân nhìn mọi việc cứ thẳng ruột ngựa như thế.

Đó là những câu chuyện giản đơn và lãnh lẽ, nhưng biết đâu, chân dung bà chúa thơ Nôm cũng sẽ gần gũi, đa sắc, và có da có thịt hơn nhờ thế?!

 
Đinh Vũ
In trang ]   Gửi email ]   Phản hồi ]       Về đầu trang ]   Quay lại ]  

Các tin đã đưa

 ▪ Vào vùng đất của những huyền thoại...(08/02/2006)
 ▪ Trên rẻo biên cương(19/01/2006)
 ▪ Mảng mầu sáng trên bức tranh "xóa đói, giảm nghèo"(18/01/2006)
 ▪ Việt Trì… "Cầu quán"(17/01/2006)
 ▪ Đi tua trên sông Đà(16/01/2006)
 ▪ Nưa Thượng im tiếng súng săn...(13/01/2006)
 ▪ Xã Yên Tập – Căn bệnh hiểm nghèo cướp đi sinh mạng nhiều người?(12/01/2006)
 ▪ Tiên Du - Mùa ... khát(04/01/2006)
 ▪ An toàn giao thông đường thủy: Vẫn còn nhiều ẩn họa! (13/12/2005)
 ▪ Nhọc nhằn nghề "hành xác"(09/12/2005)
 ▪ Chuyện buồn bên núi Cẩn(03/12/2005)
 ▪ Dư luận phía sau vụ tiêu cực ở Công ty cổ phần gốm sứ Thanh Hà(01/12/2005)
 ▪ UBND Huyện Thanh Sơn tiếp thu phê bình bài báo; "Những điều cần được làm rõ từ việc chuyển nhượng đất rừng ở thượng cửu"(30/11/2005)
 ▪ Cuộc chiến chống dịch cúm gia cầm ở Yên Lập(25/11/2005)
 ▪ Nhức nhối ma túy học đường(25/11/2005)
Tin đáng chú ý
Xã Yên Tập – Căn bệnh hiểm nghèo cướp đi sinh mạng nhiều người?
An toàn giao thông đường thủy: Vẫn còn nhiều ẩn họa!
Nơi lũ đi qua
Đến bao giờ nhà máy thép Bạch Hạc... có điện để sản xuất?
Hạ Hòa oằn mình trong lũ dữ
“Hoang đảo” giữa đại ngàn
Chiến công thầm lặng của lực lượng công an trong quá trình phá vụ án ma túy lớn nhất nước: Vào hang bắt cọp
Rừng núi Quyền đang bị "rút ruột"?

  • Bản quyền thuộc Báo Phú Thọ.  Trụ sở tòa soạn: 2179 Đại lộ Hùng Vương - Gia Cẩm - Việt Trì - Phú Thọ
     Điện thoại 0210.846.508 - Fax: 0210.846.508  Email: info@baophutho.org.vn    Website: www.baophutho.org.vn
  • Giấy phép thiết lập số 586/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VHTT cấp ngày 31/12/2004
  • Thiết kế bởi Công ty Cổ phần phần mềm Quảng Ích