Thực trạng sử dụng nước sạch ở Ngô Xá
PTO- Từ lâu tình trạng thiếu nước sạch ở các xã vùng cao luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải. Tuy nhiên, hiện nay tại xã Ngô Xá, huyện Cẩm Khê đang tồn tại một thực trạng là công trình nước sạch được đầu tư hàng tỷ đồng, nhưng số người sử dụng lại rất ít chỉ chiếm 15% tổng công suất của công trình, dẫn đến nguồn thu chỉ đủ chi phí cho các hoạt động trả tiền bơm nước, duy tu, sửa chữa hệ thống máy móc, thậm chí đôi khi xã phải bù lỗ cả các khoản chi phí trên. Nhưng ngược lại người dân vẫn phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm, không đảm bảo cho sức khỏe.
Hàng năm theo thống kê toàn xã có khoảng trên 300 hộ, chiếm 23% dân số toàn xã lâm vào tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt, trong đó chiếm 60% số hộ dân sống ở vùng đồi, nguồn nước giếng khô cạn và 40% số hộ dân sống ở vùng sâu trũng nguồn nước bị ô nhiễm từ các ao hồ chăn nuôi thủy sản và các tạp khuẩn khác như chất sắt, có mùi rất khó chịu.
Từ thực tế trên, năm 2002 xã Ngô Xá đã được chương trình mục tiêu quốc gia va tổ chức UNICEP đầu tư, hỗ trợ trên 1,8 tỷ đồng, xây dựng công trình nước sạch và đến tháng 12-2003 công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hệ thống gồm 2 giếng khoan sâu 40m, 2 máy bơm cấp nước lên có công suất điện 2,5w/h và trạm xử lý nước với bể chứa 100m3 cùng hệ thống ống nước có chiều dài trên 5.700m dẫn đến 7 khu hành chính, công suất dự tính phục vụ 500 hộ dân, công trình cấp nước sạch xã Ngô Xá đã đi vào hoạt động được 5 năm. Tuy nhiên đang tồn tại một thực tế là tỷ lệ thu hút người tham gia sử dụng nước sạch thấp. Hiện có 74 hộ sử dụng, chiếm 15% tổng công suất thiết kế của công trình nhiều khu hành chính chỉ có 2-3 hộ sử dụng.
Nguyên nhân chủ yếu là do người dân điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn không có đủ nguồn kinh phí để đầu tư ban đầu: Gồm xây dựng các công trình bể chứa nước, lắp hệ thống đường ống từ đường ống chính dẫn vào nhà để sử dụng. Theo tính toán ban đầu, mỗi gia đình phải đầu tư ít nhất từ 1-3 triệu đồng, số tiền này được xem là quá lớn so với hộ làm nông nghiệp và không có ngành nghề phụ khác. Do đó nhiều gia đình vẫn phải sử dụng nguồn nước giếng gần các ao, hồ ô nhiễm và ẩn chứa nhiều dịch bệnh.
Bên cạnh nguyên nhân do kinh tế gặp nhiều khó khăn, thì nguyên nhân thứ 2 là nhiều hộ có điều kiện kinh tế có nhu cầu sử dụng nước nhưng do ở phía cuối nguồn, đường ống hẹp nguồn nước sạch không đến tận nơi nên dù đã xây bê làm đường ống nhưng vẫn phải bỏ không, chờ nước và tốn công sức tiền của tìm nguồn nước khác để sử dụng.
Một nguyên nhân quan trọng nữa là mặc dù chất lượng nước được bơm lọc từ hệ thống của công trình cung cấp nước sạch đã được trung tâm y tế dự phòng thuộc Sở Y tế Phú Thọ xét nghiệm vệ sinh hóa lý nước kết quả đảm bảo yêu cầu và sức khỏe cho nhân dân. Nhưng người dân vẫn không an tâm lắm nghi ngờ chất lượng của nguồn nước đến nay không đảm bảo, do quá trình sử dụng người dân thấy có hiện tượng nước bị đóng cặn trắng và bám vào xung quanh các thiết bị sử dụng nước, như ấm đun nước, nồi, phích... dẫn đến tâm lý người dân ngại hoặc không dám sử dụng nguồn nước từ hệ thống công trình nước.
Hiện nay theo quy định giá nước mới, 1m3 nước sạch thu phí là 3.000đ. Nhưng do điều kiện kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn nên HTX dịch vụ điện năng xã Ngô Xá đơn vị trực tiếp quản lý công trình nước sạch vẫn thu theo giá cũ là 2.000đ. Từ những thực tế trên, đã dẫn đến tình trạng cung không đủ cầu, nên các khoản thu chỉ đủ chi phí cho các hoạt động như tiền điện bơm nước, duy tu sửa chữa hệ thống máy móc, thậm chí nhiều khi xã phải bù lỗ cả các khoản chi phí trên để đảm bảo người dân vẫn có đủ nguồn nước sạch sử dụng còn lại số cán bộ công nhân vận hành máy hầu như làm việc không công. Tuy nhiên vấn đề lớn nhất hiện nay là công trình nước sạch được đầu tư hàng tỷ đồng đã và đang gây lãng phí, hiệu quả sử dụng không cao.
Hiệu quả từ công trình cung cấp nước sạch xã Ngô Xá không thể phủ nhận, song để công trình hoạt động bền vững lâu dài và không gây lãng phí và đảm bảo quyền lợi cho nhân dân, xã cho biết sẽ tiếp tục tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch để đảm bảo sức khỏe, trước hết xã cần phải vận động đưa số đông các hộ vào sử dụng, qua đó mới phát huy hết công suất thiết bị, đảm bảo nguồn thu.
|