Thực trạng và yêu cầu quản lý tài nguyên nước ở cơ sở  | Trung tâm giống thủy sản mới được đầu tư xây dựng tại xã Sơn Vi (Lâm Thao) chuyên sản xuất các giống cấp I phục vụ chăn nuôi cá, tôm. | (PTĐT) Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội thông qua ngày 20-5-1998. Sau khi có hiệu lực (1-1999) Chính phủ đã ban hành các Nghị định: Qui định việc thi hành Luật Tài nguyên nước như qui định về: Cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác. Qua 7 năm thực hiện Luật Tài nguyên nước, công tác quản lý tài nguyên nước đã dần đi vào cuộc sống, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển KT-XH, đời sống dân sinh của đất nước. Tuy nhiên thực trạng quản lý tài nguyên nước ở các địa phương còn rất nhiều vấn đề bất cập; đặc biệt trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.
Trước hết do nhận thức của nhân dân, thậm chí cả một số cơ quan quản lý ở các cấp, ngành vẫn chưa coi nước là một tài nguyên quan trọng; quan niệm “Nước là của trời cho, vô hạn” nên dùng vô tư, không cần xin phép, không cần tiết kiệm, không biết bảo vệ, phòng chống ô nhiễm, suy thoái, tàng kiệt nguồn nước. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước ở địa phương chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, càng làm cho việc quản lý tài nguyên nước kém hiệu quả. Một thực tế hiện nay, cán bộ tài nguyên các xã, phường, thị trấn, Phòng tài nguyên môi trường các huyện, thành, thị do ít người nhiều việc, phải trực tiếp giải quyết công việc bức xúc và nhạy cảm hàng ngày, trong lĩnh vực quản lý đất đai nên công tác quản lý về khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Hầu hết các địa phương chưa thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng; chưa quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước cho các mục đích sản xuất nông, lâm, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch dịch vụ, sinh hoạt đời sống... Các tổ chức cá nhân hành nghề khoan thăm dò nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xả nước thải vào nguồn nước. Vì vậy tình trạng khoan khai thác nước tùy tiện, xả nước thải vào nguồn nước, môi trường bừa bãi đã gây nên hậu quả sụt lún đất, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tầng chứa nước ngầm ngày càng gia tăng. Các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước, hành nghề khoan nước, xả nước thải vào nguồn nước trong quá trình hoạt động chưa thực hiện đầy đủ qui trình, qui phạm nhằm khai thác hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ tài nguyên nước theo định hướng phát triển bền vững; chưa thực hiện việc xin cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo qui định của Luật Tài nguyên nước. Trên địa bàn toàn tỉnh có gần 80 công trình khai thác nước tập trung phục vụ sinh hoạt theo chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn. 105 công trình trạm bơm điện và nhiều công trình thủy nông tưới tiêu phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, hàng trăm nhà máy xí nghiệp sản xuất kinh doanh xả nước thải vào nguồn nước đều phải xin cấp giấy phép theo qui định nhưng hiện tại mới chỉ có 10 công trình có giấy phép thăm dò nước dưới đất, 4 công trình có giấy phép khai thác nước mặt, 4 công trình có giấy phép khai thác nước dưới đất, 2 công trình có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Có thể nói thực trạng công tác quản lý Nhà nước về tài ngyuên nước ở tỉnh ta trong thời gian qua còn nhiều vấn đề bất cập, chưa tuân thủ theo qui định của luật pháp, chưa bắt kịp tốc độ phát triển KT-XH của tỉnh nhà và chưa đáp ứng được yêu cầu chiến lược phát triển bền vững. Vì vậy để tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước trong thời gian tới không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn dân. Luật Tài nguyên nước nêu rõ: “Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Tài nguyên nước qui định trong Luật bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất (nước ngầm), nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở Phú Thọ tài nguyên nước bao gồm nước mặt của các sông, suối, khe, lạch, đầm, hồ, ao, nước dưới đất (nước ngầm) theo địa giới hành chính tỉnh. Vì vậy để quản lý việc thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, xả nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép vào nguồn nước chúng ta cần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền và nghĩa vụ trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước phục vụ đời sống và sản xuất, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo qui định của pháp luật. Đối với qui định về việc xin cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng nước, Nghị định số 149 của Chính phủ và Thông tư số 02 - BTNMT đã qui định: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước đều phải xin cấp phép do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Bộ TNMT, UBND tỉnh) cấp. Chỉ có các trường hợp sau đây không phải xin phép: Khai thác nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp trong phạm vi gia đình không vượt quá 0,2m3/s; khai thác nước mặt để phát điện không làm chuyển đổi dòng chảy trong phạm vi gia đình có công suất lắp máy không vượt quá 50 KW; khai thác sử dụng nước mặt cho các mục đích khác trong phạm vi gia đình không vượt quá 100m3/ ngày đêm; khai thác nước dưới đất (nước ngầm) trong phạm vi gia đình không vượt quá 20m3/ ngày đêm; xả nước thải vào nguồn nước trong phạm vi gia đình không vượt quá 10m3/ ngày đêm. Tuy nhiên Luật cũng qui định trong một số trường hợp thuộc diện nêu trên tuy không phải xin phép nhưng phải đăng ký để quản lý tài nguyên nước chặt chẽ, chính xác; UBND tỉnh qui định giới hạn tối thiểu cần phải đăng ký. UBND các huyện, thành, thị, UBND các xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước ở địa phương theo qui định của pháp luật là phải bảo đảm việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm; bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước, ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái, tàng kiệt nguồn nước, tầng chứa nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như hạn hán, lũ, lụt, sụt lún đất. Cụ thể cần thực hiện những nội dung sau: Tuyên truyền phổ biến đến mọi tầng lớp nhân dân các qui định của pháp luật về tài nguyên nước; đôn đốc, các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc xin cấp giấy phép hoặc đăng ký theo qui định của pháp luật; giải quyết các thủ tục về đất đai, cơ sở hạ tầng và các điều kiện liên quan khác để các tổ chức, cá nhân khi đã được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước đi vào hoạt động; tổ chức thực hiện các kế hoạch, biện pháp phòng, chống, khắc phục các hậu quả lũ, lụt, hạn hán và tác hại khác do nước gây ra tại địa phương; thanh tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. Các hành vi vi phạm và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước đã được qui định chi tiết tại Nghị định số 34 của Chính phủ Qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và Thông tư số 05 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 34 của Chính phủ. Mọi hành vi vi phạm các qui định sau: Thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép (trừ trường hợp không phải xin phép); vi phạm nội dung qui định của giấp phép; cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng, sửa chữa nội dung giấy phép; sử dụng giấy phép quá hạn; vi phạm qui định về hành nghề khoan nước dưới đất; gây hư hại phương tiện, công trình, thiết bị trong hệ thống lưới trạm điều tra cơ bản tài nguyên nước; vi phạm các qui định về thu nhập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước; cản trở hoạt động quản lý Nhà nước về tài nguyên nước; các vi phạm khác trong lĩnh vực tài nguyên nước như xả nước thải trái phép vào tầng chứa nước, thuộc diện phải đăng ký nhưng không đăng ký, ngâm tre nứa lá gỗ... khai thác cát sỏi làm ảnh hưởng dòng chảy và ô nhiễm nguồn nước, đều bị xử lý vi phạm hành chính bằng các hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm còn có thể bị xử phạt bổ sung; buộc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; nếu không tự nguyện thực hiện các hình thức xử phạt thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Mức phạt tiền căn cứ theo hành vi vi phạm có thể phạt từ 50.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Thẩm quyền xử phạt của chủ tịch UBND cấp xã đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính gồm: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 500.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng; buộc tổ chức, cá nhân vi phạm khắc phục hậu quả theo qui định. Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính gồm: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép; buộc các tổ chức, cá nhân vi phạm khắc phục hậu quả theo qui định. Cán bộ tài nguyên môi trường các xã, phường, thị trấn; Phòng tài nguyên môi trường các huyện, thành, thị với chức năng, nhiệm vụ của mình phải làm tốt công tác tham mưu cho UBND cấp xã, UBND cấp huyện trong công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên nước theo các nhiệm vụ nêu trên. Có như vậy chúng ta mới bảo vệ được nguồn tài nguyên đặc biệt và quan trọng này, khai thác và sử dụng hợp lý, ổn định và phát triển bền vững, tiết kiệm và đảm bảo cho nhu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung ở hiện tại cũng như cho các thế hệ tương lai. |