Nước sạch - Những cơ hội bị bỏ lỡ Để thực hiện mục tiêu đến năm 2005 có 85% dân số trong tỉnh được sử dụng nước sạch, nhiều chương trình đã được triển khai đặc biệt là các dự án xây dựng các công trình cấp nước đã nhanh chóng phát huy hiệu quả cao. Thực hiện đồng bộ các chương trình xây dựng công trình kết hợp với công tác truyền thông, không chỉ mở rộng đối tượng được hưởng lợi từ các dự án mà còn tác động tích cực vào việc giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về gìn giữ và bảo vệ môi trường cũng như nguồn nước. Tuy nhiên cũng cần phải thừa nhận kết quả đạt được thời gian qua vẫn chưa đạt được so với mục tiêu chung của tỉnh và yêu cầu đề ra từ thực tiễn cuộc sống. Nói cách khác chương trình nước sạch, mà nhất là ở khu vực nông thôn còn bỏ lỡ nhiều cơ hội để nâng số lượng hộ nông nghiệp được sử dụng nguồn nước sạch trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Theo số liệu của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn thì từ năm 1999- 2004 toàn tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 1.213 công trình cấp nước. Trong đó có 31 công trình cấp nước tập trung bằng hình thức khoan xử lý nước ngầm, 20 công trình cấp nước tự chảy và 10 công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ. Còn lại là 1.162 công trình cấp nước nhỏ lẻ chủ yếu là quy mô hộ gia đình. Nếu tính theo quy mô của các công trình được xây dựng thì đã tăng thêm được 145.800 người có nước sạch sử dụng. Cùng với số công trình do dân tự khai thác đáp ứng nhu cầu của 84.600 người thì trong 6 năm qua tổng số người dân nông thôn được cấp nước đã tăng 228.400 người. Nếu vậy so với năm 1998 tỷ lệ sử dụng nước sạch của khu vực nông nghiệp nông thôn đã tăng từ 38% lên 58,8% vào năm 2004. Nhưng trên thực tế số lượng hộ nông dân dùng nước sinh hoạt sạch không đạt theo số liệu tính toán bởi đơn giản các công trình hầu như không được khai thác đủ 100% theo công suất thiết kế. Trạm bơm số 2 và 3 của xã Tứ Xã có quy mô phục vụ 1.100 hộ tương ứng với 5.000 người. Nhưng sau 3 năm đưa vào sử dụng công trình mới phục vụ được 515 hộ dân. Hầu hết các công trình cấp nước tập trung đều trong tình trạng tương tự. Công trình nào khai thác tốt cũng chỉ đạt khoảng 70% công suất, còn thông thường cũng chỉ đạt bình quân 50% số hộ theo thiết kế. Trong hoàn cảnh đời sống còn nhiều khó khăn, việc các hộ nông nghiệp phải tính toán chi ly những khoản chi trả dịch vụ điện, nước là điều dễ hiểu. Nhưng nếu người dân hiểu được vì nguồn ngân sách Nhà nước rất khó khăn nên điều kiện quan trọng nhất để một xã được lựa chọn xây dựng công trình cấp nước là do nguồn nước ở địa phương đã bị ô nhiễm nghiêm trọng thì chắc rằng họ sẽ không bỏ lỡ cơ hội chăm sóc sức khỏe gia đình mình. Ngoài ra nhiều công trình nhanh chóng xuống cấp sau khi bàn giao cũng là nguyên nhân cơ bản khiến các dự án không phát huy được hiệu quả theo yêu cầu. Cũng tại xã Tứ Xã sau 3 năm đưa vào sử dụng cả hệ thống công trình đều xuống cấp rất nhanh. Tình trạng đường ống nứt vỡ, các nắp hố ga bị hư hại khiến nước rò rỉ chảy lênh láng khắp các ngả đường. Nhìn những đoạn đường ống bị vỡ chỉ được chằng buộc tạm bợ bằng nilon hay dây cao su đủ thấy việc sử dụng và bảo trì công trình được thực hiện như thế nào. Sau khi công trình được bàn giao cho UBND xã quản lý và điều hành không đạt hiệu quả đã giao lại cho HTX nông nghiệp làm dịch vụ. Mặc dù đã được tập huấn các kỹ thuật vận hành cũng như bảo trì cơ bản nhưng dường như tổ quản lý chỉ lo có mỗi việc là bơm nước đúng giờ. Chính vì thế mà khi có sự cố xảy ra đã không được xử lý kịp thời khiến công trình xuống cấp rất nhanh và ảnh hưởng đến chất lượng nước. Bên cạnh đó cũng phải nói đến vấn đề chất lượng xây dựng của một số công trình không đảm bảo theo thiết kế nên sau một thời gian đưa vào sử dụng chưa khai thác hết công suất đã bị xuống cấp nên cũng ảnh hưởng đến khả năng phục vụ của công trình. Hiện tại Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn đang hướng dẫn thực hiện theo 4 mô hình quản lý là UBND xã, thị trấn; HTX; nhóm hộ, doanh nghiệp nhằm tận dụng cao nhất cơ hội khai thác nguồn nước để phục vụ bà con. Một lý do cũng rất quan trọng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ mở rộng đối tượng được sử dụng nước sạch đó là những vướng mắc trong khâu thủ tục. Mặc dù là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia được quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhưng thủ tục để triển khai một dự án cấp nước (tập trung) vẫn rất rườm rà. Đối với các dự án phải xử lý nước ngầm riêng việc khoan nước đã liên quan tới 2 giấy phép trực tiếp và 3 quyết định. Như vậy nếu theo cơ chế một cửa thì để cấp một giấy phép con ấy nếu thuận lợi phải mất 45 ngày làm việc. Như vậy cùng với những hồ sơ khác, để triển khai một dự án cấp nước riêng việc hoàn tất thủ tục phải mất ít nhất 6 tháng. Thủ tục hành chính rườm rà với những điều kiện ngặt nghèo không chỉ làm chậm tiến độ triển khai các dự án mà nó còn hạn chế các đối tượng tham gia các dự án cấp nước. Trong điều kiện khó khăn của nguồn ngân sách Nhà nước thì chủ trương cấp nước sạch cần phải được xã hội hoá với sự tham gia của nhiều tổ chức và cá nhân. Cần huy động mọi nguồn lực cho mục tiêu quan trọng này bởi nước sạch luôn là một một điều kiện để đảm bảo cho chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên những quy định ngặt nghèo về năng lực kỹ thuật của đối tượng hành nghề khoan nước ngầm dường như là một thử thách nặng nề ngay cả với đơn vị chuyên môn chưa nói đến các tổ chức và cá nhân khác. Đã có nhiều hoạt động truyền thông được tổ chức trong tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường vừa qua. Tuy nhiên chỉ khi nào chúng ta tận dụng được hết những cơ hội trong cấp nước và bảo vệ môi trường khi đó điều kiện sống của người dân, đặc biệt là người dân nông thôn mới được cải thiện. Không chỉ là vấn đề tiền bạc, mỗi dự án cấp nước được triển khai còn là sự nỗ lực vì một môi trường sống tốt hơn. Hãy trân trọng những cơ hội đó.
|