Thực trạng công nợ ở Công ty cổ phần đầu tư phát triển và xây dựng Phú Thọ  | | Ảnh minh họa. | PTO- Từng là một doanh nghiệp mạnh của ngành xây dựng, có đội ngũ kỹ sư kỳ cựu, đội ngũ thợ lành nghề, đảm nhận thi công nhiều công trình khó đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao. Vào thời điểm những năm 1999- 2001 giá trị sản xuất kinh doanh của công ty luôn đạt trên 20 tỷ đồng, năm cao điểm đạt 28 tỷ đồng, đồng thời thực hiện đầy đủ các khoản đóng nộp ngân sách Nhà nước. Thế nhưng sau chuyển đổi Công ty CP đầu tư phát triển và xây dựng Phú Thọ lại không phát huy được nền tảng đã có, sản xuất kinh doanh tụt lùi và trở thành một đơn vị yếu kém, đến nay thì doanh nghiệp hầu như không hoạt động, một bộ phận không nhỏ người lao động không được giải quyết các chế độ như ốm đau, thai sản, hưu trí. Vậy đâu là nguyên nhân?
Công ty CP đầu tư phát triển và xây dựng Phú Thọ (CP đầu tư PT&XD PT) tiền thân là Công ty xây dựng nông lâm nghiệp- một đơn vị trực thuộc Sở xây dựng, chuyển đổi theo hình thức giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động quản lý và chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần từ tháng 9- 2003. Sau chuyển đổi không còn trụ sở ở đại lộ Hùng Vương, công ty lui về trụ sở nhỏ hơn nằm ẩn mình sau khu chung cư mới Hòa Phong. Nhưng để làm việc được với doanh nghiệp chúng tôi phải đi lại rất nhiều lần, thường thường vào đầu giờ sáng hay đầu giờ chiều là khoảng thời gian làm việc sôi động nhất, nhưng ở Công ty CP đầu tư PT&XD PT thì ngược lại, khi thì cửa đóng then cài, khi thì chỉ 1 hoặc 2 phòng làm việc mở cửa với 1 hoặc 2 chiếc xe máy dựng ở sân. Tĩnh lặng đến mức những người khách lạ như tôi chỉ nghe thấy tiếng bước chân của chính mình và âm thanh của không gian bên ngoài vọng vào. Song tôi cũng không ngạc nhiên bởi trước khi xuống doanh nghiệp ông Đinh Công Khái- Phó chủ tịch Công đoàn ngành xây dựng đã cho biết trước thông tin công ty đã ngừng hoạt động hơn 1 năm nay, người lao động hầu hết phải bươn trải ở ngoài, tổ chức công đoàn ở doanh nghiệp chỉ có vỏ mà không có lõi. Tôi quyết tâm tìm gặp bằng được người đại diện của doanh nghiệp, cuối cùng sự kiên trì đã không lãng phí. Người đại diện của doanh nghiệp mà chúng tôi gặp được là chị Hà Thị Sinh- Kế toán trưởng, chị Sinh cho biết: Thường thì lãnh đạo (giám đốc doanh nghiệp) chỉ có mặt chốc lát trong giờ đầu buổi sáng, còn lại bộ phận kế toán và hành chính thay nhau thường trực song cũng chỉ có 2 người, do công ty quá khó khăn, không lo được việc làm nên anh em cán bộ công nhân trong công ty đều phải tự bươn trải ở ngoài, thỉnh thoảng có việc gì công ty mới triệu tập. Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng doanh nghiệp chúng tôi được biết cuối năm 2002 trước khi chuyển đổi sắp xếp doanh nghiệp công ty có 162 cán bộ công nhân viên, giá trị sản xuất kinh doanh của đơn vị đạt 23 tỷ đồng.
Năm 2003 khi doanh nghiệp bắt tay vào chuyển đổi thì cũng không có gì vướng mắc. Qua sắp xếp lại lao động có 18 người nghỉ theo Nghị định 41, như vậy sau tháng 9-2003 hoạt động theo hình thức mới doanh nghiệp còn 144 người. Về tình hình tài chính lúc bấy giờ cũng được xác định rõ ràng, nhất là các công nợ, bao gồm các khoản Nhà nước nợ và công ty nợ. Cụ thể: Nhà nước nợ công ty từ các công trình xây dựng cơ bản là 19,575 tỷ đồng, công ty nợ ngân hàng: 15,479 tỷ đồng. Nếu nhẩm phép tính đơn giản thì rõ ràng số nợ của nhà nước còn lớn hơn số công ty nợ ngân hàng tới 4 tỷ đồng, và nếu tất cả các khoản nợ này đều được giải quyết dứt điểm sau chuyển đổi thì hẳn doanh nghiệp đã đi sang một ngả khác. Vậy nhưng sau chuyển đổi nợ chưa được trả mà công ty đã phải đối mặt với hàng loạt khó khăn khách quan và chủ quan. Về khách quan đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp khối xây lắp trên thương trường, tình trạng nợ đọng vốn trong xây dựng cơ bản kéo dài, giá vật liệu đầu vào luôn biến động khiến tỉ lệ trượt giá trong xây dựng quá lớn nhưng lại không được bù giá so với biến động của thị trường. Về chủ quan, sau chuyển đổi cũng giống như nhiều doanh nghiệp hoạt động xây lắp, công ty thiếu vốn sản xuất trầm trọng do bị chiếm dụng vốn từ nhiều công trình, muốn sản xuất bắt buộc phải đi vay. Thế là cái vòng luẩn quẩn vay nợ- nợ vay chạy quanh như chong chóng với nhiều nỗi oái ăm. Đó là nhà nước nợ từ các công trình xây dựng thì lớn (trên 19 tỷ đồng) nhưng thanh toán hàng năm lại nhỏ giọt vì “chưa có nguồn bố trí” và những khoản nợ này cũng không phải chịu bất kỳ mức lãi suất nào.
Trong khi đó thì doanh nghiệp phải gồng trả nợ cả gốc lẫn lãi cho những công trình bị nợ đọng vốn (vì hầu hết các công trình khi xây dựng đều phải vay vốn để đầu tư). Chỉ tính riêng lãi suất vay 1,1%/tháng (thời điểm trước 2006) thì mỗi tháng doanh nghiệp phải thanh toán trả lãi ngân hàng 155 triệu đồng chưa kể gốc, thế nên mới xảy ra chuyện sau chuyển đổi trụ sở công ty bị thu hồi phát mại để trả nợ. Mặc dù sau 4 năm chuyển đổi Nhà nước đã thanh toán cho doanh nghiệp được hơn 9 tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản (thanh toán được hơn 50% số nợ), nhưng đến tháng 8-2007 số vốn nợ đọng từ các công trình xây dựng đã hoàn thành vẫn còn 9 tỷ đồng. Cụ thể như công trình (CT) đường Hùng Vương còn nợ 380 triệu đồng, CT đường Nguyễn Tất Thành nợ 500 triệu đồng, CT khu tái định cư Đồng cây xa- Đồi vũ nợ 2,8 tỷ đồng, CT trụ sở Huyện ủy Lâm Thao (hoàn thành từ năm 2002) còn nợ 1,6 tỷ đồng, CT UBND thị xã Phú Thọ (gồm vườn hoa, nhà hội trường) còn nợ 1,7 tỷ đồng... Như vậy với lãi suất vay như hiện nay là 1,5%/tháng thì mỗi tháng doanh nghiệp phải gánh lãi trả ngân hàng một khoản không nhỏ: 135 triệu đồng/tháng.
Trong khi lãi mẹ đẻ lãi con công ty vẫn phải đi vay tiếp để sản xuất, để trả nợ, để tham gia đấu thầu công trình lo việc làm cho cán bộ công nhân viên và cũng để chờ ngày được Nhà nước thanh toán công nợ từ các công trình xây dựng cơ bản. Nhưng cơ chế cho vay của ngân hàng càng ngày càng thít chặt hơn khi doanh nghiệp trở thành con nợ không có đủ năng lực điều kiện để vay vốn, với tổng số nợ lên tới 8,7 tỷ đồng. Không vay được vốn, không đủ năng lực tài chính tham gia đấu thầu khiến doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hơn 1 năm nay. Khi hỏi về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau chuyển đổi chị Sinh đã thống kê cụ thể cho chúng tôi ghi như sau: Năm 2003 giá trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt gần 10 tỷ đồng, năm 2004 đạt 6 tỷ đồng, năm 2005 đạt 4 tỷ đồng, năm 2006- 2007 tụt lùi về con số 0.
Thực chất các năm 2003, 2004, 2005 công ty vẫn duy trì hoạt động được là do tiếp tục thi công những công trình dở dang và chuyển tiếp trúng thầu từ thời điểm chuyển đổi và cũng do vay được vốn để tham gia đấu thầu một số công trình mới. Dù sản lượng không nhiều nhưng anh em công nhân cũng có việc làm, có thu nhập góp phần trang trải cuộc sống. Còn kể từ tháng 1-2006 khi công ty hoàn toàn không nhận được công trình thi công nào do không có vốn để đấu thầu thì người lao động không có việc làm phải tự bươn trải ở ngoài đời sống rất khó khăn. Công đoàn công ty lúc này cũng chỉ còn 1 chủ tịch công đoàn và cũng đành bó tay, những trường hợp ốm đau thì cũng chỉ biết đề nghị công đoàn ngành hỗ trợ. Do công ty làm ăn kém hiệu quả nên nhiều cán bộ công nhân có năng lực dần chuyển đi khá nhiều, đến tháng 1-2006 công ty còn 98 người, đến tháng 7-2007 còn lại 34 người.
Song những cán bộ công nhân còn lại đang phải chịu chung những thiệt thòi không đáng có như tự bươn trải, tự tìm việc làm, tự đóng bảo hiểm và đến khi quay lại làm chế độ thì không có thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh, đến tuổi nghỉ hưu không làm được chế độ hưu, muốn chuyển công tác không chuyển được... Tất cả là do công ty vẫn đang treo nợ BHXH không có khả năng thanh toán. Được biết năm 2003 khi chuyển đổi công ty vẫn còn nợ Bảo hiểm xã hội tỉnh 133 triệu đồng, và hàng năm với mức đóng bảo hiểm bình quân 300 triệu đồng/năm nhưng khả năng chi trả chỉ được 2/3 tổng số phải nộp, vậy nên đến tháng 8-2007 công ty vẫn còn nợ BHXH tỉnh hơn 300 triệu đồng. Khó khăn chồng chất khó khăn, công ty ngừng hoạt động, không thanh toán được bảo hiểm dẫn đến những bức xúc trong cán bộ CNV với nhiều trường hợp dở khóc dở cười như trường hợp ông Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Thành, Phùng Khắc Tiền, bà Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thị Bộ... đều từ 25 đến 30 năm công tác đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng không làm được chế độ hưu, vì công ty còn nợ bảo hiểm. Trao đổi với chúng tôi về biện pháp tháo gỡ thực trạng này, người đại diện của công ty cũng chỉ biết nói rằng: “Thực tế hiện nay công ty cũng chưa tìm được giải pháp gì hữu hiệu để tháo gỡ những khó khăn trên, bức xúc đấy nhưng chưa biết lấy nguồn nào để giải quyết, chỉ còn trông chờ vào nguồn trả nợ từ các công trình đang nợ đọng vốn. Song điều này cũng khó bởi hầu hết các chủ đầu tư đều không đưa ra câu trả lời thời hạn thanh toán cụ thể”. Giải pháp tháo gỡ chưa có, kết thúc bài viết này chúng tôi cũng không đưa ra được câu kết chỉ mong các cấp, các ngành chức năng nếu có thể làm được gì, giúp được gì cho doanh nghiệp hãy dang tay và cứu lấy chính cuộc sống của người lao động trong doanh nghiệp. |