Đê điều Phú Thọ - Thực trạng và giải pháp Phú Thọ với địa hình có nhiều núi đồi, sông ngòi lớn chảy qua như: Sông Hồng, sông Đà, sông Lô và các sông nhỏ là: Sông Bứa, sông Chảy, ngòi Giành, ngòi Lao... với 14 tuyến đê từ cấp IV đến cấp I, có tổng chiều dài 382km cùng với 25km đê bối, hơn 40km đê bao ngăn lũ nội đồng và 170 cống qua đê. Phú Thọ còn là vùng chậm lũ của Trung ương... Nhiều năm trở lại đây, Nhà nước đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để tu bổ và nâng cấp hệ thống đê điều, ngoài ra tỉnh, các huyện và nhân dân còn đóng góp tiền, vật tư, công sức để nâng cấp các công trình đê, kè, cống. Tuy nhiên hệ thống đê điều ở tỉnh Phú Thọ vẫn còn tiềm ẩn nhiều sự cố có thể xảy ra mỗi mùa mưa lũ tới.
Thực trạng hệ thống đê điều
Hệ thống đê điều ở tỉnh Phú Thọ nằm ở 11 trên 12 huyện, thành, thị với tổng chiều dài 447km, trong đó đê từ cấp 4 đến cấp 1 dài 382 km, còn lại là đê bối và đê bao ngăn lũ nội đồng. Chỉ tính riêng hệ thống đê sông Thao đã có chiều dài tổng cộng là 183 km. Đê sông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ bao gồm 3 hệ thống chính: Hệ thống đê sông Thao 183 km, bao gồm cả tả Thao và hữu Thao. Hệ thống đê sông Lô 84km; đê sông Đà 53km, ngoài ra còn hàng trăm km đê sông, đê ngòi, đê bối và đê nội đồng. Trên các tuyến đê có 33 kè lát mái, 1 kè mỏ hàn,170 cống qua đê. Đó là các hạng mục công trình rất đáng quan tâm trong mùa mưa, bão, lũ. Yêu cầu chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh về công tác phòng, chống mưa, bão, lũ là phải thực hiện được các mục tiêu sau: Đảm bảo an toàn cho Thủ đô Hà Nội, thành phố Việt Trì và các huyện, thành, thị và an toàn hệ thống đê điều. Để thực hiện được các mục tiêu này, các tuyến đê thuộc sông Thao, sông Lô, sông Đà phải đảm bảo an toàn ứng với mức lũ, riêng tuyến đê sông Thao thuộc phạm vi huyện Lâm Thao, thành phố Việt Trì, huyện Tam Nông phải đảm bảo an toàn khi mực nước lên cao quá báo động 3, các tuyến đê thuộc vùng chậm lũ phải giữ được an toàn, trước khi có lệnh chậm lũ để bảo vệ an toàn Thủ đô Hà Nội. Một số đoạn đê, mái đê và vở sông tuy đã được kè lát mái, song vẫn tiềm ẩn nhiều sự cố có thể xảy ra. Thực tế cho thấy những năm gần đây, một số tuyến đê, bờ bao đã được xây dựng và đắp tôn cao, tuy nhiên khi có mưa lũ, các tuyến đê trên toàn hệ thống vẫn thiếu an toàn trong mùa mưa lũ, nhiều cống phải hoàn triệt. Tình trạng sói lở bờ và các kè trọng điểm đang diễn biến phức tạp. Mỗi khu vực sạt lở dài hàng trăm mét, thậm chí có vùng sạt kéo dài 3 - 5 km như bờ tả sông Thao thuộc khu vực Thụy Vân - Tân Đức - Minh Nông - Tiên Cát (thành phố Việt Trì). Hiện nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 33 kè thả rồng hộ chân, lát mái... và hệ thống kè gồm 11 kè mỏ hàn, nhìn chung các kè hiện nay đang làm việc bình thường phát huy được tác dụng tạo bãi bồi, bảo vệ ổn định bờ vở sông, tuy nhiên do diễn biến phức tạp của thời tiết, các biện pháp kiểm tra, bảo vệ, xử lý tình huống sạt trượt, bong xô kè cần được quan tâm theo dõi và xử lý kịp thời. Toàn tỉnh hiện có 170 cống dưới đê (trong đó có 30 cống và 1 phai đê dưới đê cấp 1, cấp 2, còn lại là cống dưới các tuyến đê cấp 4. Các cống này hầu hết được xây dựng từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, nhiều cống đã bị hư hỏng, xói, lở tiêu năng, gẫy tường cánh, tường đầu, hỏng cách cống, đàn van, máy đóng mở, hàng năm Nhà nước đã đầu tư, sửa chữa xây dựng mới, đảm bảo cho cống hoạt động bình thường. Đối với cống xả, cống tiêu tự chảy, trạm bơm Lê Tính... làm nhiệm vụ tiêu nước kể cả nước sông ở mức báo động 3, các hư hỏng của kênh, cống đã được tu sửa, tuy nhiên chưa qua thử thách cần phải được các cấp, nhất là cơ quan chuyên ngành theo dõi đề phòng tình huống xấu xảy ra. Cống xả qua đê thuộc hệ thống tiêu Lò Lợn (thị xã Phú Thọ) đã được Nhà nước đầu tư xây dựng nhưng chưa được thử thách qua mưa lũ lớn do vậy cần phải được theo dõi diễn biến. Cống Dữu Lâu thuộc đê hữu Lô, tiêu năng bị hư hỏng đã được xử lý đầu năm 2005, cần tiếp tục theo dõi khả năng tiêu úng mùa mưa lũ này. Năm 2005, cống lấy nước trạm bơm Diên Hồng đã được Nhà nước đầu tư xây dựng mới, đáy cống ở cao trình rất thấp, chính vì vậy mà tỉnh Phú Thọ chọn đây là trọng điểm chống lụt của tỉnh năm 2005. Ngoài 30 cống dưới đê thuộc tuyến đê cấp 1, cấp 2, trên các tuyến đê cấp 4 còn có 140 cống dưới đê, hầu hết các cống này đã được xây dựng từ rất lâu do vậy đã bị hư hỏng nặng, hàng năm tỉnh và các địa phương cũng đã đầu tư xây dựng mới, sửa chữa để đảm bảo an toàn chống lũ. Giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống đê
Như chúng ta đã biết và từng chứng kiến, từng đối phó với lũ lụt. Thiên tai luôn khó lường, khi mưa, lũ, bão vượt quá mức chống đỡ của hệ thống đê điều, chắc chắn chúng ta sẽ phải chấp nhận thiệt hại do thiên tai gây ra, đó là điều bất khả kháng. Lường trước những tình thế bất lợi có thể xảy ra, để giảm nhẹ thiệt hại đến mức thấp nhất do mưa, lũ, bão gây ra, các cơ quan chức năng đã có các giải pháp tình thế, chủ động đối phó kịp thời với mưa lũ bão như phân lũ, chậm lũ, cắt lũ bằng các công trình hồ chứa, thậm chí có thể phải phân lũ ngoài dự kiến để bảo đảm an toàn cho các khu vực cần thiết. Mục tiêu của tỉnh và ban chỉ đạo phòng chống lụt bão tỉnh đặt ra là phải giữ an toàn hệ thống đê theo mức thiết kế. Để đạt yêu cầu này công tác tuần tra, canh gác, phát hiện sớm các hiện tượng hư hỏng về đê, kè, cống để xử lý ngay khi mới phát sinh là quan trọng nhất. Để chỉ đạo và thực hiện tốt các vấn đề này, các địa phương cơ sở cần đánh giá đúng thực trạng đê điều, xác định chính xác các trọng điểm xung yếu để xây dựng phương án hộ đê chống lụt đồng thời cần kiểm tra chặt chẽ công tác chuẩn bị hộ đê như thành lập các lực lượng xung kích, chuẩn bị phương tiện, vật tư dự phòng, tập huấn kỹ thuật và diễn tập các tình huống hộ đê phù hợp với tình hình cụ thể ở các xã có đê. Khi bão lũ xảy ra, các phương án bảo vệ đê phòng chống lụt bão phải được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến các huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn có đê. Ban chỉ huy phòng chống lụt bão các cấp cơ sở phải chủ động huy động nguồn nhân lực, vật tư, tổ chức tuần tra, canh gác, xử lý sự cố, hộ đê chống lụt. Khi khẩn cấp phải huy động kịp thời lực lượng xung kích, phương tiện vật tư, chủ động xử lý tình huống nhanh, hiệu quả ngay từ đầu, phối hợp với các ngành để làm tốt công tác bảo vệ, phòng chống lụt bão. Đối với các tuyến đê vùng chậm lũ, mục tiêu đề ra là giữ an toàn công trình đê trước khi có lệnh chậm lũ các tình huống xảy ra như: Sạt trượt, thẩm lậu, giếng sủi, hư hỏng cống, cần huy động tối đa lực lượng, vật tư, phương tiện để tham gia hộ đê. Đối với các tuyến đê cấp 4 khi có mưa lũ lớn hơn mức báo động 3, cần chủ động tổ chức triển khai hộ đê xử lý các sự cố có thể xảy ra, đặc biệt coi trọng chỉ đạo xử lý, bảo vệ các tuyến đê trong vùng trọng điểm thuộc các huyện Phù Ninh, Đoan Hùng, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Tam Nông… đi đôi với việc chủ động bảo vệ các tuyến đê, làm tốt công tác phòng chống lụt bão, cần chuẩn bị sẵn sàng tiêu úng, khơi thông dòng chảy đối với các trạm bơm để bơm tiêu kịp thời. Có các biện pháp chống tràn cho các hồ đập. Đối với các cống dưới đê, cần có biện pháp kiểm tra thường xuyên, các ẩn họa trong thân đê (sập tổ mối hay chuột) sẽ gây ra vỡ đê, vỡ cống… do vậy cần phải thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ kết hợp tuần tra, canh gác đê để phát hiện xử lý kịp thời ngay từ giờ đầu các sự cố công trình đê điều, hạn chế thấp nhất thiệt hại do bão lũ gây ra. |