Gian nan giữ nghề ủ ấm Sơn Vi
PTO- Xưa kia, hầu như nhà nào ở vùng đất Lâm Thao cũng có trong nhà một chiếc ủ ấm được đan bằng cật tre nứa, quét sơn ta vàng óng từ bàn tay tài hoa khéo léo của những người dân xã Sơn Vi. Ủ ấm Sơn Vi không chỉ có mặt trên địa bàn của tỉnh mà đã xuất hiện cả ở các thị trường ngoại tỉnh như Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định… những nơi mà sản phẩm ủ ấm của Sơn Tây đã một thời có chỗ đứng vững chắc. Tưởng chừng với những thành công như vậy thì nghề truyền thống này sẽ có bước phát triển vững chắc, nhưng ngược lại, để bảo tồn, giữ vững và phát triển được nghề cổ truyền này là một điều vô cùng khó khăn đối với người dân xã Sơn Vi.
Nghề đan ủ ấm đã xuất hiện khá lâu ở Sơn Vi, nhiều bậc trung niên trong xã cho biết họ đã biết đan ủ ấm từ ngày còn nhỏ, đã thấy ông, cha mình làm những sản phẩm này từ 70 – 80 năm nay rồi. Sơn Vi hiện có khoảng 2.100 gia đình nhưng hiện còn đang giữ được nghề thì không nhiều, tham gia sản xuất chỉ có khoảng 45 hộ với trên 100 lao động. Phần lớn các hộ sản xuất ủ ấm ở xã đều có quy mô nhỏ, lao động chủ yếu là người trong gia đình tranh thủ lúc nông nhàn, thời gian rỗi rãi trong ngày. Theo phương thức tự sản, tự tiêu, nên giá cả khi đưa ra tiêu thụ ngoài thị trường không ổn định khiến cho sản xuất khó phát triển.
Anh Nguyễn Văn Hảo ở khu 8 là người duy nhất trong xã sản xuất với quy mô lớn cho biết: Gia đình tôi đã làm nghề này khá lâu. Bản thân tôi cũng trực tiếp sản xuất hơn 30 năm nay. Mới đây tôi đã được hỗ trợ đầu tư hơn 30 triệu đồng mua máy tách ruột tre, nứa, cắt nan, phục vụ cho sản xuất. Nghề này thực ra thì không vất vả lắm nhưng phải trải qua rất nhiều công đoạn, lúc nào cũng có thể làm được, từ người già đến trẻ con, tận dụng lúc nông nhàn, khi nghỉ hè, buổi tối… Cơ sở của tôi thường xuyên thuê khoảng 8 lao động, họ mang sản phẩm về nhà tận dụng lúc rỗi rãi tranh thủ làm thêm. Thu nhập của họ cũng tương đối ổn định bình quân từ 600.000 đồng trở lên, có người được 2 đến 3 triệu đồng/ tháng tùy vào tay nghề và số lượng sản phẩm mà họ làm được. Tôi có lợi thế là làm nghề này lâu đời đã có nhiều khách hàng quen ở các tỉnh như Hà Nội, Thái Nguyên…nên đem tận nơi giao cho họ cũng được giá hơn do không phải qua trung gian. Bình quân hàng tháng cơ sở của tôi sản xuất được khoảng 600 – 700 chiếc, giá bán trung bình từ 25.000 – 30.000 đồng một chiếc tùy theo kích cỡ và chất lượng của sản phẩm. Tính ra, trừ hết chi phí mỗi năm cũng lãi được khoảng 50 triệu đồng.
Khác với anh Hảo, ông Nguyễn Văn Nhữ cũng thuộc khu 8 lại có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, nhân công chủ yếu là người trong gia đình, chỉ thuê thêm lao động khi nguyên liệu về qua các công đoạn cạo vỏ và tách ruột. Ông cho hay: Hàng tháng gia đình ông chỉ làm được khoảng 300 chiếc trở lại. Do không có điều kiện và phương tiện vận chuyển nên các cơ sở sản xuất nhỏ như ông phải thông qua hệ thống trung gian, giá bình quân 15.000 đồng cho một chiếc lõi nhồi bông, 12.000 đồng một chiếc nhồi rơm. Hiện nay, giá cả nguyên liệu đầu vào như tre, nứa… đặc biệt là sơn ta đều lên giá khá cao nhưng giá thành sản phẩm lại thấp nên công việc sản xuất gặp rất nhiều khó khăn.
Đánh giá về những khó khăn trong việc bảo tồn và phát triển nghề làm ủ ấm của xã, ông Tạ Phước Long – Chủ tịch UBND xã cho biết: Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc chưa có được thị trường tiêu thụ. Hầu hết người sản xuất đều phải tự tìm thị trường, vì thế nên chưa thể vươn xa và cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của các nơi khác vấn đề nữa là nhu cầu sử dụng ủ ấm trong dân không nhiều. Vì thế để xây dựng được thương hiệu cho ủ ấm Sơn Vi còn rất khó khăn khiến cho người dân không mặn mà với nghề, chưa mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nên quy mô nhỏ lẻ manh mún. Khi sản phẩm hoàn thành thì rất khó khăn trong việc vận chuyển do đa phần các hộ không có phương tiện. Xã cũng chỉ giúp đỡ được bằng cách dành cho họ một số điểm ở mặt đường làm nơi trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm. Hiện nay, xã đang rất mong muốn được đầu tư về kinh phí đẩy mạnh tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, xây dựng một làng nghề tập trung chuyên sản xuất các sản phẩm như chăn, ga, gối, ủ ấm, mộc dân dụng. Xã đã dành một quỹ đất khoảng hơn 8ha để xây dựng làng nghề nhưng nguồn vốn của xã thì không kham nổi nên rất mong được cấp trên đầu tư thêm nhất là tránh tình trạng đầu tư nhỏ giọt. Có như vậy thì mới bảo tồn và phát triển được nghề truyền thống này.
Ông Long cũng tâm sự thêm về một giải pháp mở ra cho nghề là kết hợp với du lịch vừa quảng bá giới thiệu được sản phẩm vừa bán được hàng. Ông lấy ví dụ về việc tổ chức chợ quê năm 2005 có những hộ bán một ngày được 200 – 300 chiếc. Đó cũng là một ý kiến khá hay trong việc phát triển nghề nhưng phải có cách làm hợp lý vì không thể tổ chức thường xuyên được các hội chợ như vậy. Để xây dựng và phát triển được một ngành nghề cần một quá trình lâu dài sản xuất và tích lũy kinh nghiệm cũng như tạo được chỗ đứng cho sản phẩm trên thị trường. Mong sao các cấp có thẩm quyền sớm tìm được những hướng đi hợp lý để gìn giữ và phát triển được một trong những nghề độc đáo và lâu đời trên đất Tổ.
|