Những khó khăn của các hợp tác xã ở huyện Phù Ninh  | Sản xuất bánh củ mài đặc sản phục vụ lễ hội Đền Hùng ở Cơ sở sản xuất bánh kẹo Thành Long xã Hy Cương. | PTO- Đến cuối năm 2006, Phù Ninh có 28 hợp tác xã (HTX), trong đó có 5 HTX nông nghiệp; 4 HTX dịch vụ điện năng; 5 HTX tiểu thủ công nghiệp, 1 HTX vận tải và 13 HTX làm dịch vụ nông nghiệp, điện năng. Từ sau khi chuyển đổi theo Luật HTX và thực hiện NQ của Huyện ủy về tiếp tục củng cố nâng cao hiệu qủa kinh tế tập thể đến năm 2006, bộ máy BQL, BQT của các HTX đã được kiện toàn gọn nhẹ.
Trình độ cán bộ được quan tâm đào tạo bồi dưỡng hàng năm. Từ NQ, kế hoạch của UBND các cấp, các HTX đã làm công tác tham mưu và cụ thể hóa thành phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ theo đặc thù riêng của từng địa phương. Từ đó xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế, tuyên truyền vận động nông dân áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất; tận dụng đất đai để trồng cây công nghiệp, nguyên liệu giấy, cây ăn quả, cây trồng vụ đông nhằm tăng thêm thu nhập trên đơn vị diện tích. Trong các loại hình HTX trên địa bàn huyện có 3 nhóm HTX kinh doanh dịch vụ có lãi cần được tạo điều kiện củng cố và phát triển là HTX kinh doanh tổng hợp dịch vụ nông nghiệp - điện năng; HTX dịch vụ điện năng và HTX tiểu thủ công nghiệp.
Hoạt động chủ yếu của các HTX trong nông nghiệp là làm dịch vụ đầu vào cho sản xuất như giống, phân bón, thủy lợi, điện, khuyến nông, BVSX, BVTV. Trong các khâu dịch vụ trên có 3 khâu là thủy lợi, giống, phân bón được các HTX xác định là có tính quyết định đến năng suất, sản lượng cây trồng hàng năm nên tập trung quan tâm đáp ứng cơ bản nhu cầu của xã viên. Trong 13 HTX dịch vụ NN và điện năng có 10 HTX làm được 4 - 5 khâu dịch vụ, 2 HTX có mức doanh thu lớn là HTX Phú Mỹ là 668 triệu đồng; Trạm Thản 367 triệu đồng. Các HTX tiểu thủ công nghiệp và vận tải chủ yếu làm các sản phẩm vật liệu xây dựng, giấy các loại, chè và vận chuyển hàng hóa. Số xã viên trong các HTX nông nghiệp có 14.025 người và 101 xã viên của HTX TTCN & vận tải.
Tài sản bình quân của các HTX DVNN là 271 triệu đồng; tài sản lưu động 561 triệu đồng/HTX. Trong 13 HTX DVNN - ĐN, bình quân mỗi HTX có 867 triệu đồng tổng giá trị tài sản với 231 triệu đồng vốn lưu động. Mặc dù, các HTX NN đều có quỹ nhưng rất thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất; trong khi đó nợ phải thu, nợ phải trả chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, việc thu nợ cũ đạt thấp. Một số HTX DVNN - ĐN có nguồn vốn sản xuất kinh doanh lớn như Phù Ninh trên 2 tỷ đồng; Hạ Giáp, Liên Hoa... trên 1 tỷ đồng. Các HTX DV ĐN thực hiện một khâu dịch vụ duy nhất là điện, trong đó tài sản cố định chiếm trên 86% tổng nguồn vốn. HTX Phú Mỹ, giá trị sản xuất kinh doanh có số thu cao nhất đạt 668 triệu đồng/năm 2006. Một số HTX đã giải quyết kịp thời nợ mới phát sinh và thu nợ tồn đọng bảo toàn vốn và tăng thêm nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh. Số doanh thu hàng năm tăng như ở các HTX Phú Lộc, TT Phong Châu, Trường Xuân, Tiên Phú, Bảo Thanh, Phù Ninh...
Hiện có 19/22 HTX được UBND xã giao cho sử dụng quỹ đất công ích 5% với 221ha. Hàng năm UBND các xã trích 50% lợi nhuận thu được từ quỹ công ích giao cho các HTX để chi cho các hoạt động khuyến nông và trả công cho đội ngũ KNV không chuyên trách. Song do diện tích đất 5% không tập trung nên việc quy hoạch điều chỉnh đất đai còn gặp khó khăn. Các HTX ngoài chức năng làm dịch vụ phục vụ sản xuất còn tổ chức triển khai hướng dẫn nông dân thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế nông lâm nghiệp.
Nhìn chung, bước đầu đã có những kết qủa tốt như dự án trồng chè ở 8 xã vùng dự án, trồng mới được trên 67ha, thâm canh hơn 65ha; triển khai quy hoạch và xây dựng bờ bao ngăn nước vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại xã Phù Ninh với 51ha. Vận động nhân dân đưa các giống lúa lai vào sản xuất ở 6 xã với 116 ha mở rộng nhằm thay thế một số giống lai nhập nội. Dự án hồng Gia Thanh đã trồng xong trên 17ha, ươm 16 nghìn hom giống phục vụ cho kế hoạch trồng hồng năm 2007. Dự án 661 trồng 170ha trong đó có 150ha rừng kinh tế và 20ha rừng phòng hộ, tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho người lao động, cải tạo môi trường sinh thái.
Mặc dù đã được củng cố và có sự chuyển biến song hoạt động của các HTX chưa thật vững chắc, chưa thực sự tạo được bước chuyển về chất và gặp nhiều khó khăn. Các HTX NN còn lúng túng trong việc xây dựng phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ. Đội ngũ cán bộ chưa được chuẩn hóa, chuyên môn còn hạn chế, việc hỗ trợ giúp đỡ kinh tế HTX cả về KHKT, thông tin thị trường hạn chế. Một số cán bộ quản lý và xã viên chưa thực sự gắn bó với HTX, cơ sở sản xuất còn lạc hậu, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xây dựng trụ sở làm việc. Hầu hết các HTX thiếu vốn hoạt động, còn nợ đọng kéo dài chậm được giải quyết.
Trong khi đó tiến độ dồn đổi ruộng đất chậm làm cho việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa sự quan tâm chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền xã đối với HTX chưa thường xuyên. Việc huy động vốn góp của xã viên không thực hiện được. Đội ngũ khuyến nông ở cơ sở chưa đủ mạnh để thực hiện chức năng hướng dẫn chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân. Còn tình trạng quản lý của BQT HTX yếu dẫn đến quá trình làm dịch vụ thua lỗ. Mối liên kết giữa các HTX với các doanh nghiệp và các cơ quan khoa học đóng trên địa bàn còn hạn chế nên chưa tạo động lực cho phát triển sản xuất. Để các HTX hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn tới, huyện xây dựng kế hoạch củng cố phát triển HTX NN giai đoạn 2007-2010.
Các giải pháp trọng tâm sẽ được thực hiện như đào tạo đội ngũ cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo các cấp, đoàn thể, liên kết giữa các cơ quan khoa học trên địa bàn. Thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp tạo điều kiện cho việc tập trung ruộng đất đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất. UBND các xã, thị trấn quy hoạch đất để các HTX xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, cửa hàng phục vụ sản xuất. Hỗ trợ một phần kinh phí để các HTX xây dựng các mô hình kinh tế trọng điểm và phát triển tiểu thủ công nghiệp. |