Những đổi thay về kinh tế nông nghiệp trên một vùng đất giữa
 | Vụ chiêm xuân này xã (Tam Nông) trồng được hơn 70 ha lạc xen ngô - Bà con nông dân khu 4 chăm sóc lạc - ngô. | PTO- Ngoài những lợi thế về giao lưu, thông thương hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, Tam Nông còn có hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống. Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 17, BTV huyện ủy đã ban hành quyết định số 09 về việc bổ sung thành viên BCĐ sản xuất nông nghiệp huyện (BCĐ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp) giai đoạn 2005 – 2009. Từ năm 2005, huyện đã triển khai thực hiện 4 chương trình kinh tế nông nghiệp trọng điểm là sản xuất lương thực, phát triển chăn nuôi bò thịt; thủy sản; phục hồi và phát triển cây sơn nhựa. Đến nay, các chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm đã đạt được những kết qủa tích cực. Tạo động lực đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện.
Vài năm gần đây, nhất là năm 2006, công tác dồn đổi ruộng đất ở Tam Nông luôn được chú trọng, tạo điều kiện cho người dân tiện canh tác, đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng, đồng thời tạo hiệu quả cao trong công tác chuyển dịch. Các mô hình, chương trình nông nghiệp trọng điểm khi triển khai đều được hỗ trợ kinh phí chính xác, đúng đối tượng. Do vậy đã tác động tích cực, khuyến khích nông dân mạnh dạn ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất. Công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của huyện bám sát vào phương châm tổ chức rà soát quỹ đất, bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi với quan điểm không nhất thiết phải cấy lúa bằng mọi giá song ưu tiên giành diện tích ruộng đất tốt, sử dụng các giống lúa lai, giống lúa năng suất cao, giống lúa chất lượng cao và tập trung sản xuất đầu tư cao cùng với việc ứng dụng nhanh các TBKT vào sản xuất để có năng suất cao, đảm bảo an ninh lương thực. Với các diện tích cấy lúa bấp bênh, nếu bị úng thì chuyển sang nuôi trồng thủy sản; nếu do hạn chuyển sang trồng cỏ chăn nuôi hoặc trồng các cây màu khác như lạc, đỗ tương...
So với các ngành kinh tế khác như công nghiệp, TTCN, dịch vụ... thì tỷ trọng nông nghiệp của huyện có xu hướng giảm nhưng giá trị sản xuất vẫn liên tục tăng, đạt tốc độ khá và bền vững. Năm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 158 tỷ đồng, năm 2006 đạt hơn 169 tỷ đồng; giá trị sản xuất bình quân từ 18,7 triệu đồng/ha đất nông nghiệp năm 2005 lên 19,2 triệu đồng/ha năm 2006. Tính theo tiêu chí mới, tỷ lệ hộ đói nghèo năm 2005 là 31% năm 2006 giảm xuống còn 24%. Với chương trình sản xuất lương thực được huyện định hướng phát triển tập trung cả về số lượng và chất lượng. Cơ cấu giống và trà lúa đã được thu gọn, ổn định. Vụ đông xuân được chuyển dịch theo hướng tiến bộ với cơ cấu trà xuân muộn là chủ yếu; mở rộng ứng dụng tiến bộ KHKT, đẩy mạnh đầu tư thâm canh cao, sử dụng giống có năng suất, chất lượng khá. Trà lúa xuân trung thường sử dụng giống cũ, năng suất trung bình, mẫn cảm vơi sâu bệnh đã được khuyến cáo xoá bỏ từ 3 năm nay.
Vụ mùa trước đây có 3 trà nay còn 2 trà là trà lúa mùa sớm và mùa trung, trà lúa mùa muộn đã bị xoá bỏ. Riêng trà mùa sớm được bố trí 70-80% cấy giống dài ngày trên chân đất có khả năng gieo trồng cây vụ đông. Theo đánh giá chương trình sản xuất lương thực ở Tam Nông là chương trình đạt nhiều kết quả nhất trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Việc đưa giống lúa, ngô chất lượng cao vào sản xuất đã khẳng định ưu thế về tiềm năng năng suất, chất lượng sản phẩm; góp phần nâng cao sản lượng và giá trị trên đơn vị diện tích, đồng thời làm thay đổi và nâng cao nhận thức của người nông dân. Việc phát triển diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây màu đồi, đem lại hiệu quả sử dụng đất khá. Diện tích cây ăn quả được mở rộng, thúc đẩy việc giao khoán đất rừng cho chủ hộ, thúc đẩy tốc độ trồng cây che phủ đất. Người dân đã có ý thức bảo vệ và nhiệt tình tham gia nhận khoán trồng, chăm sóc và bảo vệ nên chất lượng rừng trồng được cải thiện hơn trước.
Phát triển chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt đang được khẳng định là cho hiệu quả kinh tế cao nhất trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tại huyện. Tổng đàn bò của năm 2005 là 15.565 con, năm 2006 là 15.866 con. Diện tích trồng cỏ từ hơn 60ha năm 2005 lên trên 78ha năm 2006. Huyện đã xác định hướng đầu tư chủ đạo trong chăn nuôi là cải tạo đàn bò theo hướng sind hóa bằng phương pháp phối tinh trực tiếp từ con đực giống sind và truyền tinh nhân tạo. Khuyến khích các hộ đầu tư nuôi bò thịt theo quy mô gia trại, trang trại, tận dụng đất vườn, đất cao hạn trồng lúa kém hiệu quả để mở rộng diện tích trồng cỏ chăn nuôi. Cùng với chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi thủy sản đang là hướng chủ đạo của nhiều địa phương, huyện đã có đề án phát triển giai đoạn 2004 – 2009 với mục tiêu khai thác, sử dụng hiệu quả 1.300 mặt nước. Riêng năm 2006, huyện đã triển khai 12 dự án thủy sản gồm 27 hộ tham gia. Huyện đã chuyển trên 110 ha đất trồng trọt kém hiệu quả tại 8 xã, thị trấn sang nuôi trồng thủy sản.
Nhìn chung, nuôi trồng thủy sản góp phần và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước, đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm công ăn việc làm và là điều kiện cho một số hộ nông dân vươn lên làm giàu. Đối với chương trình phục hồi và phát triển cây sơn nhựa, cây sơn đã được xác định là cây kinh tế bền vững trên vùng đồi. Vốn là cây truyền thống của huyện, đã đạt gần 400 ha, trong đó 245 ha đang cho sản phẩm đạt năng suất 3,5tạ/ha với sản lượng trên 85 tấn, đem lại giá trị thu nhập gần 6,5 tỷ đồng/năm. Chương trình có thuận lợi do tiếp tục triển khai đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn, phục tráng và nhân nhanh giống sơn đỏ huyện Tam Nông”.
Có thể thấy công tác chỉ đạo của BCĐ sản xuất huyện đã bám sát cơ sở, trọng tâm và quyết liệt; kịp thời tháo gỡ những khó khăn; cơ cấu cây trồng vật nuôi được xác định rõ, bước đầu xây dựng được mô hình sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ. Sản xuất lương thực giữ được tốc độ tăng trưởng khá và đảm bảo an toàn. Trong từng chương trình kinh tế trọng điểm đã xuất hiện các nhân tố mới theo hướng sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo sản xuất ở một số địa phương còn mang tính phong trào, nặng hình thức.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa gắn với việc ứng dụng các công nghệ cao... Từ kết quả đạt được, trong giai đoạn tới huyện tiếp tục thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm trong nông nghiệp đã được triển khai. Trong đó, coi trọng sản lượng lương thực; khuyến khích, đầu tư phát triển cây sơn nhựa; chăn nuôi đại gia súc, thủy sản; cây ăn quả; cây lâm nghiệp; phát triển ngành nghề nông thôn... Đồng thời với hỗ trợ cơ chế chính sách, huyện tăng cường các giải pháp kỹ thuật như định hướng để người dân thực hiện theo quy hoạch, từng bước hình thành vùng sản xuất, địa bàn sản xuất theo nhóm hàng, ngành hàng; giúp nông dân tham quan trực tiếp mô hình thành công để có thể lựa chọn ứng dụng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện của mỗi hộ, trong đó khuyến khích sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có hiệu qủa kinh tế cao. Tiếp cận nhanh và chuyển giao được những tiến bộ KHKT ra sản xuất đại trà. |