Minh Lương ra khỏi "135" PTO- Gia nhập làng “135” năm 2001, đầu xuân Đinh Hợi 2007, Minh Lương xã miền núi của huyện Đoan Hùng đã bước ra khỏi danh sách các xã đặc biệt khó khăn. Đây cũng là thời điểm đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã.
 | | Chè và cây nguyên liệu là thế mạnh kinh tế mũi nhọn của Minh Lương (Đoan Hùng). | Ai trở lại Minh Lương vùng thượng huyện Đoan Hùng bây giờ dễ nhận thấy những đổi thay của xã miền núi này. Bằng nguồn dự án di giãn dân và chương trình 135, con đường từ Tây Cốc qua Phúc Lai, Bằng Doãn đến Minh Lương 15 km đã được mở rộng, tôn cao cấp phối; thay thế cho con đường đầy ổ trâu, ổ gà, nắng là bụi, mưa là lầy thụt, uốn lượn, lồi lõm 5 năm về trước. Dọc 2 bên đường và xa hơn nữa đều là màu xanh ngút ngát của những đồi chè và cây rừng.
Tại trụ sở UBND xã, Chủ tịch Đặng Văn Lung hồ hởi báo tin vui đầu tiên “xã Minh Lương ra khỏi nhóm 135”. Để thấy rõ kết quả và tác dụng của những công trình từ dự án 135 và các dự án xóa nghèo đem lại, chủ tịch Lung mời chúng tôi đi một vòng thăm xã; mục sở thị các công trình đã được xây dựng; thăm một số mô hình chè, rừng, bưởi đặc sản. Tất cả sự đổi mới, phát triển đó đều đã lọt vào ống kính của hội viên chúng tôi. Chủ tịch Lung vui vẻ giới thiệu: Trụ sở làm việc của xã vừa mới được khánh thành đưa vào sử dụng; với số vốn từ ngân sách Nhà nước và vốn địa phương là hơn 700 triệu đồng. Thế rồi anh kể về Minh Lương đã triển khai thực hiện dự án 135 và lồng ghép các chương trình vào địa phương mình: “Năm 2001, từ thực tế của Minh Lương, Đảng bộ chúng tôi xác định: Muốn phát triển thì khâu then chốt phải là điện, đường trường, trạm và công trình thuỷ lợi (kênh, mương, hồ đập). Do đó khi có vốn của chương trình đều phải được đầu tư làm dứt từng công trình; không để dây dưa kéo dài, công khai dân chủ; quản lý chặt không để thất thoát gây mất lòng tin. Là xã vùng đất giữa, địa hình đồi núi phức tạp, từ trung tâm xã ra đường quốc lộ 70 lên Đại Phạm, Hà Lương (Hạ Hòa) xuôi phía nam về Tây Cốc khá xa, thiếu huyết mạch khiến cho Minh Lương không “mở mày, mở mặt” ra được. Sau hơn 1 năm tập trung thi công bằng vốn dự án cộng với sức người của các hộ dân, Minh Lương đã hoàn thành mở rộng nâng cấp, cấp phối 10km đường liên xã, 14km đường liên thôn; 3 km đường bê tông. Có đường đã giúp cho giao thương, tạo cho kinh tế văn hóa... phát triển; giúp cho con trẻ hăng hái vui vẻ tới trường học tập. Điện là công trình thứ hai được khởi công với 3 trạm biến áp; 3,8 km đường dây cao thế; 7,3 km đường dây hạ thế; 2,4 tỷ đồng tiền dự án và 500 triệu đồng do dân đóng góp đã đảm bảo cho 631 hộ dân trong xã đều được sử dụng điện sáng. Nhờ ngày đầu tiên đóng điện (tháng 4-2003) cả vùng núi này bừng sáng; tiếng tivi, loa đài rộn ràng khắp các khu dân cư, phấn khởi, hào hứng không ai ngủ được, đúng là thức mà mơ. Từ ngày có điện các dịch vụ ở xã bắt đầu phát triển như sửa chữa cơ khí, xay xát, chế biến lâm sản, chế biến chè; sản xuất đồ mộc, dịch vụ ăn uống, hàng quán được mở ra. Nhiều hộ bao đời nay “Bám ruộng, bám vườn, đồi” chưa biết kinh doanh, dịch vụ là gì, qua học hỏi đã tích cóp, vay vốn ngân hàng làm dịch vụ đem lại hiệu quả. Nhiều hộ đời sống kinh tế được cải thiện khá dần lên và mạnh dạn đầu tư, vươn xa hơn với thương trường. Các công trình phúc lợi như trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng khá đồng bộ. Hệ thống các trường từ mầm non đến THCS được xây dựng khang trang, 100% các em đến tuổi đều được đến lớp học tập. Chủ trương xã hội hóa giáo dục đang được cấp chính quyền ở Minh Lương và ngành giáo dục khẩn trương chỉ đạo hoàn thiện. Trạm xá xã Minh Lương trong tốp đầu 5 xã của Đoan Hùng đạt chuẩn quốc gia. Các thầy thuốc, y bác sĩ đã làm tốt việc chăm lo, khám chữa bệnh cho người dân trong cộng đồng. Với lợi thế 2/3 diện tích là đất đồi rừng trong đó đất trồng cây lâm nghiệp là 800ha, đất trồng chè 190ha, đất nông nghiệp 120ha, Minh Lương xác định và tập trung vào mũi nhọn kinh tế nông lâm nghiệp, khai thác thế mạnh đồi rừng, phát triển chăn nuôi trâu, bò, nuôi ong lấy mật. Các công trình thủy lợi được đầu tư với 3,4km kênh mương nội đồng, 10 đập tràn, 28 hồ, đập được xây dựng đã chủ động đảm bảo tưới nước cho cây trồng, vật nuôi. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tiến hành luân canh tăng vụ (2 lúa, 1 vụ đông) đưa giống lúa lai, lúa thuần, giống cấp 1 năng suất cao vào gieo trồng; tập huấn kỹ thuật; thực hiện tốt dịch vụ giống phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; nhờ đó năng suất lúa tăng 38 tạ/ha năm 2000 lên 51 tạ/ha/2005. Khai thác thế mạnh từ đất, tập trung trồng cây nguyên liệu giấy (bạch đàn, keo, luồng...) mở rộng và cải tạo giống chè cũ dần thay thế bằng chè cành có năng suất và chất lượng cao, phát triển các mô hình kinh tế, nhiều mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp cho thu nhập từ 20 triệu đến 100 triệu đồng/năm như hộ ông Nguyễn Quốc Lập. Lều Ngọc Anh ở khu 1; Nguyễn Văn Hưng khu 2; Vũ Văn Lập, khu 8; Nguyễn Văn Luyện khu 4... Trước năm 2000 bình quân thu nhập 1,3 triệu đồng/người/năm, đến năm 2006 nâng lên 4 triệu đồng, bình quân lương thực từ 320kg/người/năm (năm 2000) lên 531kg/ người/năm (năm 2006) (cao hơn mức bình quân của huyện). Không còn hộ đói; 30% hộ khá và giàu còn 27% hộ nghèo (theo tiêu chí mới) 80% số hộ có nhà xây; 85% số hộ có xe máy; một số hộ đã có ô tô để làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Nhìn lại 20 năm đổi mới, nhất là 6 năm lại đây thực tiễn cho Minh Lương những bài học quý báu về những mặt mạnh và hạn chế của mình làm cơ sở để phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong chặng đường mới. |