Triển vọng của chương trình phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp PTO- Khi “an ninh lương thực” trở thành vấn đề cấp bách chung của toàn cầu người ta mới đi vào mổ xẻ tìm hiểu nguyên nhân và nhận ra hầu hết các quốc gia đều ưu tiên tập trung cho đầu tư các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại mà thiếu hẳn một chiến lược để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp dài lâu. Ở ta, dù là quy mô cấp quốc gia hay chỉ trong phạm vi một tỉnh,thành thì khái niệm “chuyển dịch cơ cấu kinh tế” cũng luôn đồng nghĩa với việc giảm tỷ trọng lĩnh vực nông, lâm nghiệp trong cơ cấu phát triển chung của nền kinh tế. Như vậy vô hình chung đầu tư phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp luôn đứng ở vị trí ưu tiên sau cùng trong các hoạt động đầu tư phát triển trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ nông nghiệp lại ngày một tăng và không gì có thể thay thế được. Là một tỉnh miền núi, trong những năm qua tỉnh ta cũng đã rất nỗ lực nhằm giảm tỷ trọng của ngành kinh tế nông lâm nghiệp từ chỗ chiếm trên 40% xuống còn 27% sau đúng 10 năm tái lập tỉnh. Tuy nhiên để đảm bảo cho ngành kinh tế nông lâm nghiệp phát triển vững chắc và hiệu quả, một chương trình phát triển các loại hình kinh tế nông, lâm nghiệp trên địa bàn giai đoạn 2007 – 2010, định hướng đến 2015 đã được xây dựng nhằm hoạch định một hướng phát triển đồng đều phù hợp với đặc thù của tỉnh cho tất cả các thành phần kinh tế từ tư nhân, hợp tác đến doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp trong thời gian tới.
Những năm qua kinh tế nông, lâm nghiệp tỉnh ta đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và quy mô đồng thời cũng đa dạng hơn về loại hình và ngành nghề. Các thành phần kinh tế nông lâm nghiệp đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân bao gồm: Hộ sản xuất, trang trại, doanh nghiệp tư nhân đã có sự đầu tư về trang thiết bị và khoa học kỹ thuật để mở rộng và phát triển sản xuất. Đến hết năm 2006, toàn tỉnh đã có 222.243 hộ nông dân, 470 trang trại (theo đúng tiêu chí của Bộ No-PTNT), 116 HTX và 680 tổ hợp tác, 178 doanh nghiệp tư nhân và 2 doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản với giá trị sản xuất đạt khoảng gần 5.000 tỷ đồng. Tuy đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cả về số lượng và giá trị nhưng cũng cần phải thừa nhận hầu hết các loại hình kinh tế trong nông lâm nghiệp tỉnh ta đều có quy mô nhỏ và còn thiếu vốn sản xuất, năng suất lao động cũng như hiệu quả sản xuất còn chưa cao. Với 470 trang trại, tổng nguồn vốn đầu tư cho các trang trại này chỉ đạt 105.134 triệu đồng. Doanh thu bình quân của mỗi trang trại là chưa đến 200 triệu đồng/năm với mức thu nhập cũng chỉ đạt ở mức 51,8 triệu đồng/trang trại/năm và số thu hút lao động trung bình cũng khiêm tốn ở con số 5-6 lao động/trang trại. Bên cạnh đó các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp cũng chỉ có một quy mô rất hạn chế. Trong số 178 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này thì các doanh nghiệp tham gia vào sản xuất trực tiếp chỉ có 30 doanh nghiệp, còn lại là các doanh nghiệp thuộc đối tượng bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản. Trong khi các doanh nghiệp sản xuất có giá trị sản xuất bình quân hàng năm khoảng trên 1,6 tỷ đồng với quy mô là 20 lao động, thì các doanh nghiệp chế biến có quy mô khá hơn cũng chỉ bình quân 35 lao động/doanh nghiệp với giá trị sản xuất đạt trung bình 4 tỷ đồng/năm.Ngoài ra các HTX, tổ hợp tác cũng làm ăn rất cầm chừng và thiếu hiệu quả. Một trong hai doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực này làm dịch vụ công ích thậm chí còn thường xuyên thông báo phải bù lỗ. Điều đó đã phần nào cho thấy các thành phần kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp còn thiếu đầu tư về trang thiết bị, phương tiện và cơ sở vật chất, trình độ cơ giới hóa thấp và sản xuất kinh doanh chưa gắn với thị trường. Xác định rõ những tồn tại, hạn chế chủ quan cũng như những khó khăn thử thách mang yếu tố khách quan, nên chương trình phát triển các loại hình kinh tế trong nông, lâm nghiệp giai đoạn 2007 – 2010 của tỉnh được xây dựng đảm bảo các tiêu chí: Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; Gắn sản xuất với chế biến; mở rộng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và thực hiện liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà phân phối và nhà nông); và một điều quan trọng là phải gắn phát triển sản xuất với giải quyết tổng thể các vấn đề nông nghiệp, nông thôn như lao động, việc làm… Mục tiêu đề ra là đến năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh tăng bình quân 5-5,5%/năm; giá trị tính trên đơn vị sản xuất đạt 26-28 triệu đồng/ha; số trang trại trong tỉnh tăng lên trên 500 trang trại với mức bình quân thu nhập khoảng 70-80 triệu đồng/năm; toàn tỉnh có 250 doanh nghiệp tư nhân với giá trị sản xuất đạt gần 1500 tỷ đồng, thu hút trên 15.000 lao động; và phấn đấu có trên 40% nông lâm sản trên địa bàn được chế biến tại chỗ, trong đó có khoảng 15-20 % doanh nghiệp có sản phẩm mang sức cạnh tranh cao thuộc các lĩnh vực chế biến chè - giấy - gỗ - tinh bột sắn… Để thực hiện các mục tiêu xây dựng, những giải pháp đề ra là tập trung phát triển cả về quy mô, kỹ thuật cũng như về trình độ quản lý của mọi thành phần kinh tế nông lâm nghiệp. Giải pháp cụ thể đối với khu vực hộ sản xuất và trang trại là phải nhanh chóng thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, vốn và thực hiện cơ giới hóa sản xuất. Làm được điều đó các địa phương phải đẩy nhanh tiến độ giao và cấp quyền sử dụng đất nông, lâm nghiệp. Bên cạnh đó cũng phải thực hiện đẩy đủ các chính sách hỗ trợ của nhà nước cho phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại về đất đai, vốn, cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật. Đặc biệt là phải quy hoạch tạo vùng chuyên canh sản xuất sạch. Đối với các doanh nghiệp tư nhân khuyến khích việc liên doanh liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân và trang trại trên cơ sở các bên cùng tự nguyện đưa khoa học công nghệ vào ứng dụng. Đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp theo hướng sản xuất công nghiệp gắn với chế biến và xuất khẩu. Đối với kinh tế HTX phải tập trung nâng cao trình độ quản lý và khả năng hợp tác trong sản xuất; Tăng cường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho độ ngũ cán bộ điều hành, ban quản trị và tăng cường khả năng huy động vốn bằng tiền mặt cho các HTX. Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì đẩy nhanh tiến độ đầu tư, đổi mới công nghệ. Trên cơ sở những yêu cầu đặt ra, những giải pháp cụ thể về truyền thông, về đào tạo phát triển nguồn nhân lực, về đầu tư kết cấu hạ tầng cơ sở, ứng dụng khoa học công nghệ và các giải pháp về chính sách đã được đưa ra. Trong đó đặc biệt là các giải pháp về đất đai như tiếp tục thực hiện dồn điền đổi thửa, tập trung ưu tiên vào các huyện có quỹ đất để phát triển vùng sản xuất tập trung; xây dựng các dự án sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung hay thành lập các trang trại cổ phần. Hay các giải pháp về tín dụng như ưu tiên đầu tư hỗ trợ vốn cho các dự án thuộc chương trình kinh tế nông, lâm nghiệp trọng điểm và chương trình cơ khí hóa nông nghiệp nông thôn; triển khai xây dựng và thực hiện chương trình tín dụng phục vụ nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2007-2010; các giải pháp về thị trường như đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại tìm kiếm và mở rộng thị trường kết hợp với tăng cường quản lý chất lượng nông lâm sản, thực hiện đăng ký và bảo vệ thương hiệu sản phẩm (bưởi Đoan Hùng,chè…) Với những chiến lược đã được hoạch định, hy vọng sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển của các thành phần kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp của tỉnh nhà thời gian tới. |